An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy: Từ những mảnh vỡ hồi ức

Thoáng qua hay gắn bó lâu dài, hời hợt hay sâu sắc, bất luận thế nào, mảnh đất An Nam cũng đã kịp neo lại trong hồi ức nhiều lữ khách phương Tây. Hồi ức, vì thế, không chỉ là một cửa ngõ biểu lộ tình cảm mà còn là dạng tư liệu thú vị khi được chuyển hóa thành trang viết.

Chắp nối và nhìn lại những mảnh vỡ hồi ức này, theo tôi, trước hết để hình dung rõ hơn về “tấc lòng” cũng ưu thời mẫn thế từ phía kẻ xa lạ, và hơn nữa, để nắm bắt phần nào những trạng huống chân thực của xã hội An Nam trong thời điểm họ không còn lựa chọn nào khác ngoài bước vào quĩ đạo canh tân, hiện đại hóa.

1. Hãy bắt đầu với cuốn Hồi ký Xứ Đông Dương (1905) của Paul Doumer, viên Toàn quyền để lại một di sản tuy lớn nhưng không ít điều tiếng ở xứ thuộc địa.

Sau nhiệm kì năm năm (1897-1902), Paul Doumer trở về Pháp trong ánh hào quang vì đã biến một nơi xa xôi trở thành “ban công nhìn ra Thái Bình Dương của nước Pháp” đủ hấp dẫn chính giới nhưng lại không đủ dập tắt dư luận báo chí hoặc các đối thủ chính trị cáo buộc, chế giễu, gièm pha về các chính sách cũng như cá tính quá quyết đoán đến mức khắc nghiệt của ông.

Ngay tức thì Paul Doumer viết hồi ký (souvenirs) trình bày kĩ lưỡng nhiều vấn đề, trong đó, dường như cũng muốn “biện minh” cho chính mình, nhất là cái thế quá khó khi phải đương đầu với rất nhiều thử thách lớn.

Nhưng điều khiến độc giả lưu tâm, thực ra, còn nằm ở những trữ tình ngoại đề mà Paul Doumer, tự do hơn, khéo léo dẫn dắt để độc giả Pháp hiểu rõ hơn về xứ An Nam. Đấy không phải là vùng đất nhuốm đầy huyền thoại, kì bí như trong cái nhìn của các lữ khách ưa mạo hiểm hóa, mà hết sức cụ thể theo từng địa hình địa vực, khí hậu, thổ nhưỡng.

Ông cũng thường xuyên dừng lại, và đây mới là điểm để chúng ta có quyền bình luận rằng đáng tin hay cần hoài nghi, trước tình cảnh sống của người dân An Nam: “Người dân ở đây [Bắc Kỳ] cần cù, thông minh, khéo léo; đất đai màu mỡ. Ấy thế nhưng vào năm 1897, dân chúng dường như rất khốn khổ. Dưới làn mưa phùn buốt lạnh giá, họ lẩy bẩy, gần như trần trụi bên đường, họ che thân một cách sơ sài bằng chiếc áo tơi”.

Mặc dù cần cù nhưng nghèo đói vẫn hiện diện khắp nơi, làng mạc chật hẹp vẫn bó buộc người dân vào công việc đồng áng quanh năm đầu tắt mặt tối. Trong tâm trạng nơm nớp âu lo sinh kế, người dân An Nam nhìn người Pháp một cách dè chừng, khép nép, “họ vẫn đang phải chịu đựng đau khổ vì người Pháp” – Paul Doumer nhận xét.

Tôi không nghĩ viên Toàn quyền trẻ tuổi đã phải tỏ ra thương hại hay quá lời ở những đoạn hồi tưởng nói về tình cảnh nghèo khó, lạc hậu của xứ An Nam. Thậm chí, trong lối viết đậm chất tả thực của ông, chúng ta còn thấy nó chưa đủ gây rùng mình như các nhà văn hiện thực chủ nghĩa Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao.

Vấn đề là Paul Doumer không sử dụng nó để phê phán, đả kích ai, mà để đặt trong những dự tính xây dựng, tái thiết thuộc địa của mình. Vì thế, ngay khi bắt gặp vùng châu thổ Bắc bộ sinh ra từ phù sa sông Hồng, Paul Doumer không quên nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc duy tu, bảo dưỡng đê điều và đồng thời, “sông Hồng đòi hỏi một đường xe lửa trên bờ của nó”. Ý tưởng về sau thành cây cầu Long Biên nổi tiếng ấy, rõ ràng, càng ngày càng cho thấy sự đúng đắn, hiệu quả của nó với nhiều cây cầu khác được xây dựng gần đây.

Hồi ức của Paul Doumer càng về cuối càng thấm đẫm mùi vị “kỉ nguyên của sắt thép và của những cây cầu”.

Nhưng đây là một điểm đáng chú ý mà ông rút ra trong quá trình thi công cây cầu mang tên ông: “Vẫn các công nhân bản xứ lắp ráp các phần dầm kim loại, vận hành các thiết bị cẩu nặng, tán các đinh ri-vê. Ban đầu, các thợ tán đinh ri-vê chủ yếu được tuyển mộ từ cộng đồng người Hoa, vốn khỏe mạnh hơn người An Nam; nhưng dần dà, người An Nam đã gạt người Hoa ra. Nếu họ không khỏe bằng, họ sẽ tích cực và khéo léo  đến mức tạo ra năng suất cao hơn, nên họ được các kĩ sư ưa thích hơn”.

Điều này có nghĩa, một mặt, người An Nam tuy cực nhọc trong lao động nhưng không thờ ơ với cơ hội kiếm việc làm và mặt khác, họ có ý chí lẫn năng lực để đảm nhận những công việc hiện đại đòi hỏi kĩ thuật, năng suất cao. Sự kì vọng của Paul Doumer vào tính cách dũng cảm, sáng tạo trong lao động của người An Nam, cho đến nay, đã không còn là một ngoa ngôn. 

2. Được gặp chút thoáng Paul Doumer trong buổi khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Thương vào năm 1902, mấy mươi năm sau, Claude Bourrin, một nhân viên ngành thuế, đã nhớ lại với niềm vinh dự thầm kín, kèm theo bình luận: “[…] có những giá trị căn bản của vị toàn quyền đầu tiên, người đặc biệt sắc sảo và là người duy nhất trong những năm trước chiến tranh có những ý tưởng mạnh mẽ đối với các công trình dài hạn”.

Cái sự dài hạn, hay chính xác hơn, một “kế hoạch tổng thể” không thể dựa vào những lợi ích thuần túy địa phương, đã giúp ba xứ của An Nam tự thu hẹp khoảng cách lẫn nhau, ít nhất là về mặt địa lí và kinh tế, xã hội.

Bản thân Claude Bourrin không quên nỗi ám ảnh về những chuyến đi “kỉ lục thực sự” trên con đường cái quan từ Hà Nội vào Sài Gòn nhưng điều anh ta quan sát được, tôi nghĩ, cũng khiến chúng ta không khỏi chạnh lòng: “Tôi nhớ là đã thấy ở Hà Nội năm 1909 đám ma của một người thư kí. Người ta đã gọi tới một dàn kèn châu Âu. Thế nhưng phía sau xe tang lại có hàng chục nhạc công chơi bài Hành khúc tang lễ (Marche funèbre) của Chopin cứ như chiếc xe tang đang chở một ông đại sứ có tên tuổi, một thống chế nổi tiếng hay một viện sĩ hàn lâm”.

Với  Claude Bourrin, người An Nam không chỉ ăn mặc, ăn uống và cắt tóc theo “kiểu châu Âu” mà còn sẵn sàng học đòi cái gọi là văn minh của người Pháp một cách bất chấp. 

Chắc chắn, việc bắt chước Thái Tây quá hợm hĩnh và nông nổi đã diễn ra trong một bộ phận không nhỏ thị dân Việt Nam đầu thế kỉ XX. Và cùng với đời sống công chức trong bộ máy hành chính “ngồi lê đôi mách và quẩn quanh xó nhà”, “ở đâu người ta cũng có thể đàm tiếu và nói xấu về mọi chuyện và về tất cả mọi người” như nhận xét của Raoul Postel vào năm 1884, thì quả nhiên, trạng thái hiện đại chưa đến đích đã bị vênh lệch đi khá nhiều.

Trong giai đoạn đó, các kí giả, nhà báo An Nam cũng liên tục báo động lối sống sa đọa, suy đồi đang ngấm dần vào lớp thanh niên “thượng lưu cặn bã”.

Đặc biệt, việc hút và nghiện thuốc phiện đã trở thành tệ lậu mới vượt lên mọi nỗ lực ngăn chặn. Louis Rouband, tác giả của Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương (1931) nổi tiếng, đã  lo ngại và chế giễu về một thực tế rằng những bồi bếp và cu li đã phải nhai những viên xái vét trong điếu của các ông chủ.

Các đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội là nơi tập trung nhiều tiệm hút và dân nghiện nhưng cảnh tượng dân quê nằm cạnh mâm đèn cũng không còn quá xa lạ. Hình ảnh những bảng hiệu R.O (Régie de lOpium: Ty thuốc phiện) xuất hiện khắp thành phố và làng mạc, dưới màu trắng của lá cờ nước Pháp. Dĩ nhiên, nhà báo này cũng biết rõ lợi nhuận khổng lồ từ thuốc phiện đem lại cho mẫu quốc (một ty thuốc phiện Pháp có thu nhập chiếm tới một phần tư tổng ngân sách Đông Dương) vì thế, dù có rất nhiều phản đối mang tính đạo đức, “tự do thuốc độc” vẫn cứ hiển hiện như một quyền tự do duy nhất mà các nhà khai hóa mang đến cho người dân bản xứ!

Đó hẳn là những hồi ức không mang lại thiện cảm nào đối với độc giả hôm nay. Nhưng cũng cần thiết để chúng ta nhìn thẳng vào tính cách đua đòi, dễ sa ngã, dễ chấp nhận và thỏa hiệp với mọi cái mới mà người An Nam thường bộc lộ. Việc không hoặc ít có sự kháng cự đủ mạnh nào trước lực hút của thói quen hưởng lạc vật chất thuần túy cũng là nhược điểm khiến chúng ta bỏ nửa chừng các ý hướng, hành động duy tân triệt để và dài lâu. 

3. Một hồi ức nữa mà tôi muốn nhắc đến là của Michel Đức Chaigneau (1803-1894). Nếu Paul Doumer dành một trường đoạn khá hào hứng cho kinh thành Huế, “điện Versaille của An Nam”, “đẹp đẽ và oai nghiêm đến từng chi tiết”, thì trước đó, 1867, Michel Đức Chaigneau còn dành cho mảnh đất cố đô này những hồi ức dài hơi và sinh động hơn, trong đó, có chi tiết nhỏ khiến tôi chú ý: người An Nam rất đam mê cờ bạc ăn tiền. Ngay trong những ngày đầu năm, người dân “tụm ba tụm bảy chơi bài khắp nơi, trong nhà, ngoài phố, ngay cả ven đường”.

Dân chúng say sưa sát phạt, với Michel Đức Chaigneau, là cảnh tượng quá đỗi ngạc nhiên. Nhưng oái oăm thay, sau gần hai trăm năm, các trò cờ bạc đỏ đen hôm nay vẫn diễn ra quanh năm và ngày càng tinh vi, khủng khiếp hơn. Tại sao, vẫn tái lặp một kí ức đắng đót đến thế?

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.