An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy

LTS: Trong giai đoạn giao thời đầu thế kỉ XX, Việt Nam hay quen thuộc hơn với tên gọi An Nam, trở thành điểm đến của rất nhiều lữ khách phương Tây. Cho dù họ đang thực thi những công việc, mục đích khác nhau thì vẫn có điểm chung là sự say mê khám phá, mô tả, nghiên cứu vùng đất và con người An Nam.

Chính họ đã góp phần tạo ra một kênh tri thức, một sự “hiểu Việt Nam” kéo dài và trở thành tư liệu văn hóa, văn chương, lịch sử quan trọng. Loạt bài viết của chúng tôi bước đầu dựng lại những tư liệu này, sắp xếp thành các chủ đề và sơ bộ phân tích chúng, ngõ hầu nhận diện các điểm thú vị, độc đáo, sâu sắc mà đến hôm nay vẫn còn mời gọi con người đương đại phải vắt óc suy tư.

Kỳ 1: Bước chân nhà truyền giáo và ánh mắt giới công quyền

Nếu không kể Marco Polo (1254-1323), nhà thám hiểm vĩ đại nước Ý, người từng đến vùng đất Chăm-pa xưa và Đông Kinh, sau đó, kể lại đôi dòng trong hồi ức Cuộc đời vạn dặm trứ danh của mình, thì có thể nói, chỉ đến cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỷ XX, Việt Nam mới thực sự đón nhận một lượng lớn lữ khách phương Tây có sự đa dạng, khác biệt nhau về vị thế xuất thân, công việc thực làm, góc nhìn và quan điểm biểu lộ. Nhìn lại họ, hiểu họ là ai sẽ dẫn chúng ta bước đầu khám phá trước tác của họ và vỡ lẽ vì sao họ lại trình bày những nội dung đó với thái độ đó mà không phải là điều gì khác.

Hai trong số nhiều lữ khách mà chúng ta sẽ tiếp cận đầu tiên là nhà truyền giáo và các viên chức công quyền.

Giáo sĩ, linh mục, cha xứ

Các nhà truyền giáo, do công việc đặc thù của mình, dĩ nhiên là đến sớm và luôn đi đầu trong việc ghi chép, mô tả về xứ sở mà họ muốn thu phục lòng dân lẫn truyền bá tôn giáo mới, Kito giáo, thứ tôn giáo phi truyền thống và cơ bản không được sự chấp thuận của chính quyền phong kiến trị vì.

Leopold Michel Cadiere.
Leopold Michel Cadiere.

Sau Alexandre de Rhodes (1591-1660), vị giáo sĩ từng có ba năm ở Đàng Ngoài (1627-1930) đủ trải nghiệm để viết một bản tường trình nổi tiếng Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (tiếng Ý, 1650), định hình cho truyền thống giáo sĩ viết khảo cứu, thì đến đầu thế kỉ XX, chúng ta bắt gặp hai tên tuổi nổi bật trong hàng ngũ các nhà truyền giáo  đã tích cực công bố nhiều ghi chép, nghiên cứu về An Nam: Henri Souvignet (1855-1942) và Léopold Michel Cadière(1869-1955).

Dĩ nhiên, trong quãng thời gian thế kỉ XVII và XVIII đầy biến động và bước ngoặt khi xã hội Đại Việt dần tiếp xúc sâu cả về kinh tế-xã hội với phương Tây ấy, các giáo sĩ vẫn có nhiều mô tả nhưng đa phần hiển thị dưới dạng những bức thư gửi cho các cha bề trên trong Hội Thừa sai Paris.

Henri Emmanuel Souvignet, cũng xuất thân là một giáo sĩ truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris, lần đầu đặt chân đến Bắc Kỳ vào năm 1882 khi vừa 27 tuổi. Sau một thời gian ngắn tham gia đào tạo giáo sĩ trẻ tại phía nam Hà Nội, năm 1893, H. Souvignet được cử về coi sóc giáo phận Phủ Lý.

Mười năm sau, 1903, dưới bút danh giản đơn A+B, cha xứ H. Souvignet đã xuất bản Bắc Kỳ tạp lục (Variétés Tonkinoises) tạo nên tiếng vang lớn. Số tiền từ việc bán cuốn sách này đã được H. Souvignet, mà giáo dân thường gọi với cái tên Cố Thi, góp xây nhà thờ Phủ Lý. Có thể coi Bắc Kỳ tạp lục là cẩm nang giới thiệu, dẫn nhập về An Nam, trước hết cho độc giả Pháp, và bằng cách đó, góp thêm tiếng nói tri thức Pháp về mảnh đất thuộc địa vốn chưa hết lạ lẫm.

Trong lời mở cuốn sách, H. Souvignet tỏ ra chân thành và sâu sắc khi bày tỏ mong muốn rằng Bắc Kỳ tạp lục sẽ như “chiếc chìa khóa” giúp người Pháp “len lỏi vào các ngóc ngách trong đời sống tinh thần của người An Nam, bằng cách lĩnh hội và thẩm thấu nhanh những tập tục của họ”.

Trong cái nhìn của H. Souvignet, rõ ràng, chỉ có vốn hiểu biết kĩ càng về An Nam thì mới có thể tránh bị cớm bóng tầng lớp nho sĩ uyên bác ở đây, và nhất là, mới có thâm tình “yêu dân tộc này”.

So với H. Souvignet, những trước tác và đóng góp nghiên cứu của linh mục Léopold Michel Cadière là phong phú và chất lượng hơn. Đến Huế năm 1892, L. Cadière kinh qua nhiều xứ đạo, nhờ đó, có cơ hội thu thập các tài liệu khảo cứu về ngôn ngữ, địa lí, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam.

Bắt đầu từ 1901, L. Cadière lần lượt công bố hàng trăm tiểu luận quan trọng, đặt nền móng cho quá trình tìm hiểu Việt Nam của học giả Pháp về sau. Trong đó, có thể kể đến các chuyên khảo lớn như Địa lý lịch sử Quảng Bình qua thư tịch triều đình (1902), Lũy Thầy ở Đồng Hới (1906), Triết học dân gian Việt Nam: vũ trụ quan (1907-1908); Nhân sinh quan dân gian người An Nam (1915), Dinh trấn các chúa Nguyễn trước Gia Long (1916), Tín ngưỡng và việc thực hành tôn giáo của người An Nam vùng quanh Huế (1918), Nghệ thuật ở Huế (1919), Gia đình và tôn giáo ở Việt Nam (1930),…

Năm 1955, các bài viết của L. Cadière được tuyển chọn và ấn hành thành ba tập lớn lên gần ngàn trang mang tên Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt (Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens). Nhờ L. Cadière, các yếu tính cơ bản trong văn hóa bản địa, lịch sử và con người An Nam bắt đầu vươn tới những vấn đề học thuật lớn, thử thách độ kiên trì và trí óc khảo cứu bài bản của người phương Tây.

Do đó, thay vì đóng vai những kẻ chinh phục, khai sáng thuộc địa, L. Cadière lại đặt mình vào vị thế người của xứ sở này để phơi mở hàng loạt các giá trị còn khuất lấp. Đặc biệt, sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt, chủ đề mà tôi sẽ trở lại ở các bài viết sau, đã được L. Cadière bàn luận say mê, hấp dẫn và sáng rõ trên nhiều phương diện.

Cũng như Souvignet nằm xuống khoảng đất nhỏ bé Phủ Lý, L. Cadière đã chọn nghĩa trang Phú Xuân làm nơi an nghỉ của đời mình. Đấy là những con người, đúng như sở nguyện, được chết trong lòng giáo dân Việt Nam. Nhưng chữ nghĩa và trí lực của họ thì luôn lay động tất cả chúng ta hôm nay.

Các chính khách, viên chức công quyền

Không chỉ đảm nhận sứ mệnh công vụ và hành chính trong bộ máy chính quyền thuộc địa, các chính khách và viên chức còn tỏ ra hăng hái tìm hiểu An Nam trên tất cả các phương diện. Hiểu An Nam, một mặt, để thỏa mãn tâm lí hiếu kì và tò mò “xứ lạ” mà thời đại khám phá (age of exploration), bắt đầu từ thế kỉ XIX, gieo sâu vào đầu óc các nhà thực dân chinh phục.

Mặt khác, quan trọng hơn, chính quyền Pháp không muốn thiết lập một chế độ cai trị lâu dài mà không có một nền tảng tri thức đủ chắc chắn, toàn diện về chính dân tộc bị đô hộ. Ở đây, khi viết khảo tả hay nghiên cứu về An Nam, giới chức công quyền dường như cũng bộc lộ các đề đạt, mong muốn cải cách, xây dựng xã hội thuộc địa của họ. Cần nhấn mạnh điểm này, bởi, khác các nhà truyền giáo, tiếng nói của giới chính khách thường nhuốm màu thực tiễn và sát sườn đời sống chính trị hơn.

Thật khó mà liệt kê đầy đủ các gương mặt viên chức, chính trị gia từng viết về An Nam. Nhưng, để phần nào nhận thấy tình thế trăm nhà đua tiếng, tôi tạm thời nhắc đến vài tên tuổi nổi bật: Pierre Pasquier (1877-1934), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1928-1934, là tác giả của Nước Việt Nam thời xưa (L’Annam dautrefois, 1929); Henri Gourdon (1876-1943), Giám đốc Nha học chính, người đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc cải cách giáo dục năm 1906, là tác giả của Đông Dương (Indochine, 1931) và Nghệ thuật xứ An Nam (L’art de lAnnam, 1933); Gustave Dumoutier (1850 - 1904), Giám đốc Học chính Trung-Băc kỳ, từng viết rất nhiều khảo cứu, tiêu biểu như Lễ tang của người An Nam (Le ritual funéraire des Annamites, 1902) và Các tiểu luận về người Bắc Kỳ (Essais sur les Tonkinois, 1908); Auguste Bonifacy (1856-1931), đại tá chuyên nghiệp nhưng cũng không rời bàn viết với Đạo Phật (Le bouddhisme, 1928); Charles Edouard Hocquard (1853-1911), một bác sĩ quân y đồng thời là nhiếp ảnh gia, đã mô tả Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Une campagne au Tonkin, 1892); các công sứ cũng không chịu thua kém: Paul Ory (?-?) viết Làng xã của người An Nam ở Bắc Kỳ (La commune Annamite au Tonkin, 1894), một cuốn sách nhập môn về làng xã An Nam mà về sau sẽ còn rất nhiều thân danh nhập cuộc; Paul Giran (1875-?) viết Tâm lí người An Nam (Psychologie du Peuple Annamite, 1904) và Bùa chúa và Tôn giáo An Nam (Magie et religion annamites, 1912); đặc biệt, công sứ Charles Robequain (1897-1963) là tác giả của hai công trình nổi tiếng Tỉnh Thanh Hóa (Le Thanh Hoa, 1929) và Xứ Đông Dương thuộc Pháp (LIndochine francaise, 1935)...

Cũng có nhiều viên chức khác, chẳng hạn như Claude Bourrin, tuy chỉ là viên chức ngành thuế bình thường, nhưng lại tỏ ra rất sành sõi trong sự quan sát, phản ánh đời sống xã hội và những ghi chép đó, từ 1898-1914 (Geners et choses en Indochine) sinh động và cuốn hút không ngờ dù chỉ xoay quanh sự việc thường ngày và hoạt động kịch nghệ ở Hà Nội.

Với các chính khách, viên chức công quyền, viết có thể chưa phải là mục đích tối hậu. Tuy thế, bằng việc đọc lại sách vở của họ, chúng ta sẽ nhận diện rõ hơn những vàng thau lẫn lộn ở trong đó. Rõ ràng, không phải tất cả những trước tác này đều thuyết phục về độ chính xác khoa học và nhất là, có thể đạt tới sự thông hiểu An Nam trên tinh thần nhân văn hiện đại.

Bởi vậy, công việc tưởng chừng khó khăn song không nên quá trễ muộn ấy là phải đặt cạnh, trong một sự qui chiếu tri thức tổng thể, các tiếng nói, góc nhìn khác nhau để tránh những đánh giá, quy kết vội vàng. Nhưng trước mắt, dù sao, chúng ta phải kể thêm những kẻ xa lạ, những lữ khách quan trọng khác nữa…

* Đón đọc kỳ 2: Văn chương của ký giả và khảo cứu của khoa học gia

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Mục tiêu “netzero” và lực cản từ khủng hoảng năng lượng

Các cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), chính sách “xanh” với những mục tiêu quyết đoán cùng các tuyên bố mạnh mẽ của chính giới, làn sóng đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng áp lực cắt giảm khí thải carbon khiến than đá, loại nhiên liệu từng là động lực cho các cuộc cách mạng công nghiệp dường như đang dần bị đẩy ra bên lề.

Nhưng trước các cú sốc địa chính trị, khủng hoảng năng lượng khi nguồn cung gián đoạn, và đặc biệt là nhu cầu điện tăng vọt do tăng trưởng kinh tế cũng như sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), than đá một lần nữa được nhắc đến như giải pháp an ninh năng lượng. Liệu thế giới có thể thực sự rời bỏ than đá? Quá trình chuyển đổi xanh trên thực tế dường như mong manh hơn nhiều so với những tuyên bố chính trị?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Máy bay diệt drone triển vọng đến đâu?

Một trong những bước thay đổi lớn của chiến tranh trong vòng mười năm trở lại đây là sự lên ngôi của máy bay không người lái (UAV). Những chiếc máy bay cho vào vali được mà có thể đảm nhận nhiệm vụ trinh thám, tiêu diệt mục tiêu, v.v… không kém gì các loại khí tài đắt tiền. Nhờ UAV mà các lực lượng phiến quân có thể tham gia cuộc chiến trên không chứ không còn phải chịu cảnh hoàn toàn lép vế trước quân đội chính quy. Tất nhiên là việc sử dụng drone hàng loạt cũng kéo theo hoạt động phát triển vũ khí diệt drone. Nhưng sử dụng máy bay - cả loại có và không có người lái - để tiêu diệt UAV có là giải pháp hữu hiệu?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Mỹ ngầm đổi “luật chơi” trong cuộc chiến chống ma tuý?

Một cuộc chiến bí mật được cho là đang leo thang mạnh mẽ dọc theo biên giới Nam Mỹ. Theo CNN và hãng thông tấn Anadolu, ngày càng nhiều thông tin và nghi vấn cho rằng CIA đang tham gia sâu hơn vào các hoạt động nhằm vào mạng lưới băng đảng ma túy tại Mexico. Những thay đổi chiến lược trở nên rõ nét hơn khi chính quyền Mỹ nhìn nhận các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia này như những mối đe dọa an ninh có tính khủng bố, qua đó mở đường cho các hoạt động tình báo và bán quân sự tinh vi hơn trên lãnh thổ nước láng giềng.

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Lầu Năm Góc giải mật UFO: Bên trong kho hồ sơ mật bị phong kín 80 năm

Sau gần 80 năm trong các kho lưu trữ mật của quân đội Mỹ, hàng trăm hồ sơ về UFO (vật thể bay không xác định) vừa lần đầu được Lầu Năm Góc công khai trước thế giới. Không có “xác người ngoài hành tinh” hay bằng chứng về những cuộc đổ bộ từ vũ trụ, nhưng các đoạn phim hồng ngoại, ghi âm và lời kể của phi công đang mở ra cuộc tranh luận lớn nhất nhiều thập niên qua về những vật thể bí ẩn mà ngay cả Washington cũng chưa thể giải thích.

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

“Đốm lửa” chiến tranh đã rơi gần những lò phản ứng

Cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy điện hạt nhân Barakah của UAE hôm 17/5 chỉ gây ra thiệt hại nhỏ. Nhưng dư chấn thì rất lớn, khi nó cho thấy ranh giới giữa một vụ tấn công “suýt trúng” với một thảm họa phóng xạ đang ngày càng mong manh, trong bối cảnh bất ổn địa chính trị bủa vây Trung Đông như hiện nay.

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Thế giới đã sẵn sàng cho đại dịch tiếp theo?

Khi con tàu du lịch MV Hondius rời cảng Ushuaia, Argentina vào ngày 1/4/2026, không ai trên tàu có thể ngờ rằng họ sắp trở thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Sau bốn tuần, ba hành khách đã tử vong, nhiều người khác nguy kịch, cuộc truy vết phức tạp được tiến hành. Ổ dịch virus Hanta trên con tàu này không chỉ là một thảm kịch đơn lẻ, nó đã trở thành phép thử mới đối với khả năng chống chịu của hệ thống y tế toàn cầu trong bối cảnh chúng ta vẫn đang loay hoay tìm kiếm sự đồng thuận để đối phó với những đại dịch mới.

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Sau hơn 30 năm lại nói về chuyện quốc phục

Nói về quốc phục hay cao hơn là bàn tới câu chuyện quốc phục ở nước ta có lẽ rất khó ấn định được thời điểm chính xác, bởi mỗi giai đoạn lại bùng lên rồi xẹp xuống, hòa tan trong vô vàn sự kiện, hoạt động... Những ngày gần đây, thông qua một hoạt động mang tính lễ nghi cấp Nhà nước, vấn đề cần có một bộ quốc phục, lễ phục mang tính thành quy lại xôn xao dư luận, khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa trăn trở, đặt câu hỏi: “Tại sao, đến hôm nay, chúng ta vẫn còn băn khoăn đi tìm quốc phục?”.

Cây giáo trên tay vua

Cây giáo trên tay vua

Giáo là món vũ khí “kinh điển” của thời cổ đại, vì nó dễ chế tạo, dễ huấn luyện và được sử dụng rất linh hoạt. Ngoài binh lính, có những vị vua nước Việt cũng từng cầm giáo làm vũ khí, và có vị còn... ra đi vì mũi giáo.

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo âm thầm tàn phá môi trường

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang âm thầm thúc đẩy sự mở rộng của nhiên liệu hóa thạch, giúp một số quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất thế giới khoan và khai thác nhiều dầu khí hơn. Đã đến lúc cần xem xét lượng khí thải do AI tạo ra, vốn có thể vượt xa đáng kể so với tác động môi trường từ cơ sở hạ tầng của nó.

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

40 năm định hình ngành hạt nhân sau thảm kịch Chernobyl

Thảm họa Chernobyl không chỉ khép lại bằng những con số thương vong, mà còn mở ra một bước ngoặt lớn trong tư duy về an toàn và chính sách năng lượng toàn cầu. Từ cú sốc 1986, khái niệm "văn hóa an toàn hạt nhân" được đặt lên hàng đầu, kéo theo những thay đổi sâu rộng trong thiết kế, vận hành và giám sát các nhà máy điện nguyên tử. Ngày nay, khi nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng gia tăng, điện hạt nhân đang trở lại và đáng tin cậy hơn nhiều so với cách đây 4 thập kỷ.

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

“Đường vòng” cho nỗ lực từ bỏ nhiên liệu hóa thạch

Ngày 28/4/2026, Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch đã diễn ra tại thành phố Santa Marta của Colombia, với sự tham dự của đại diện hơn 50 quốc gia. Bức tranh rối ren của thị trường năng lượng thế giới thời gian qua cho thấy một thực tế phũ phàng là sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang trói buộc các quốc gia vào những biến động địa chính trị phức tạp, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trong bối cảnh đó, hội nghị tại Santa Marta đã được nhiều ý kiến ca tụng là sự kiện đánh dấu “bước khai tử” nhiên liệu hóa thạch.

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Vành đai gỉ sét và vành đai mặt trời: Cuộc chuyển đổi trong lòng nước Mỹ

Khi những người ủng hộ ông Trump trong cuộc đua trở lại Nhà Trắng hô vang khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại”, họ không chỉ nói về những bảng lương đã mất, mà còn về cả một bản sắc đang phai mờ. Thực tế, những nhà máy mới vẫn đang mọc lên trên đất Mỹ, chỉ có điều chúng không nằm ở những thị trấn công nghiệp xưa cũ mà chọn những vùng đất mới. Đây vừa là lựa chọn tất yếu, đồng thời là một nghịch lý của nền kinh tế - chính trị Mỹ hiện tại.

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

UAV giá rẻ khiến chiến tranh khó lường hơn

Trong nhiều thế kỷ, ưu thế trên không là đặc quyền của các cường quốc quân sự. Máy bay không người lái (UAV) đang thay đổi điều đó. Khi khả năng tiếp cận từ trên không không còn là đặc quyền của vài cường quốc nữa, nó đang khiến cho những cuộc xung đột trở nên “cân bằng” hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.

Sắc cờ thời xưa

Sắc cờ thời xưa

Chúng ta thường nghe kể rằng thời Nguyễn ở nước ta, vua treo cờ vàng, nhưng ít người biết rằng vua còn có nhiều sắc cờ khác nữa.

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Doanh nghiệp bị phạt tù vì “nộp tô” cho khủng bố

Tòa án Pháp ra phán quyết phạt tù lãnh đạo một tập đoàn đa quốc gia vì hành vi tài trợ khủng bố trong bối cảnh xung đột tại Syria giai đoạn 2013 - 2014. Động thái này không chỉ phơi bày mức độ gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và các mạng lưới cực đoan, mà còn phát đi cảnh báo rõ rệt về ranh giới pháp lý mà doanh nghiệp không thể vượt qua khi hiện diện tại các khu vực chiến sự.

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.