An Nam trong mắt lữ khách thuở ấy

LTS: Trong giai đoạn giao thời đầu thế kỉ XX, Việt Nam hay quen thuộc hơn với tên gọi An Nam, trở thành điểm đến của rất nhiều lữ khách phương Tây. Cho dù họ đang thực thi những công việc, mục đích khác nhau thì vẫn có điểm chung là sự say mê khám phá, mô tả, nghiên cứu vùng đất và con người An Nam.

Chính họ đã góp phần tạo ra một kênh tri thức, một sự “hiểu Việt Nam” kéo dài và trở thành tư liệu văn hóa, văn chương, lịch sử quan trọng. Loạt bài viết của chúng tôi bước đầu dựng lại những tư liệu này, sắp xếp thành các chủ đề và sơ bộ phân tích chúng, ngõ hầu nhận diện các điểm thú vị, độc đáo, sâu sắc mà đến hôm nay vẫn còn mời gọi con người đương đại phải vắt óc suy tư.

Kỳ 1: Bước chân nhà truyền giáo và ánh mắt giới công quyền

Nếu không kể Marco Polo (1254-1323), nhà thám hiểm vĩ đại nước Ý, người từng đến vùng đất Chăm-pa xưa và Đông Kinh, sau đó, kể lại đôi dòng trong hồi ức Cuộc đời vạn dặm trứ danh của mình, thì có thể nói, chỉ đến cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỷ XX, Việt Nam mới thực sự đón nhận một lượng lớn lữ khách phương Tây có sự đa dạng, khác biệt nhau về vị thế xuất thân, công việc thực làm, góc nhìn và quan điểm biểu lộ. Nhìn lại họ, hiểu họ là ai sẽ dẫn chúng ta bước đầu khám phá trước tác của họ và vỡ lẽ vì sao họ lại trình bày những nội dung đó với thái độ đó mà không phải là điều gì khác.

Hai trong số nhiều lữ khách mà chúng ta sẽ tiếp cận đầu tiên là nhà truyền giáo và các viên chức công quyền.

Giáo sĩ, linh mục, cha xứ

Các nhà truyền giáo, do công việc đặc thù của mình, dĩ nhiên là đến sớm và luôn đi đầu trong việc ghi chép, mô tả về xứ sở mà họ muốn thu phục lòng dân lẫn truyền bá tôn giáo mới, Kito giáo, thứ tôn giáo phi truyền thống và cơ bản không được sự chấp thuận của chính quyền phong kiến trị vì.

Leopold Michel Cadiere.
Leopold Michel Cadiere.

Sau Alexandre de Rhodes (1591-1660), vị giáo sĩ từng có ba năm ở Đàng Ngoài (1627-1930) đủ trải nghiệm để viết một bản tường trình nổi tiếng Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (tiếng Ý, 1650), định hình cho truyền thống giáo sĩ viết khảo cứu, thì đến đầu thế kỉ XX, chúng ta bắt gặp hai tên tuổi nổi bật trong hàng ngũ các nhà truyền giáo  đã tích cực công bố nhiều ghi chép, nghiên cứu về An Nam: Henri Souvignet (1855-1942) và Léopold Michel Cadière(1869-1955).

Dĩ nhiên, trong quãng thời gian thế kỉ XVII và XVIII đầy biến động và bước ngoặt khi xã hội Đại Việt dần tiếp xúc sâu cả về kinh tế-xã hội với phương Tây ấy, các giáo sĩ vẫn có nhiều mô tả nhưng đa phần hiển thị dưới dạng những bức thư gửi cho các cha bề trên trong Hội Thừa sai Paris.

Henri Emmanuel Souvignet, cũng xuất thân là một giáo sĩ truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris, lần đầu đặt chân đến Bắc Kỳ vào năm 1882 khi vừa 27 tuổi. Sau một thời gian ngắn tham gia đào tạo giáo sĩ trẻ tại phía nam Hà Nội, năm 1893, H. Souvignet được cử về coi sóc giáo phận Phủ Lý.

Mười năm sau, 1903, dưới bút danh giản đơn A+B, cha xứ H. Souvignet đã xuất bản Bắc Kỳ tạp lục (Variétés Tonkinoises) tạo nên tiếng vang lớn. Số tiền từ việc bán cuốn sách này đã được H. Souvignet, mà giáo dân thường gọi với cái tên Cố Thi, góp xây nhà thờ Phủ Lý. Có thể coi Bắc Kỳ tạp lục là cẩm nang giới thiệu, dẫn nhập về An Nam, trước hết cho độc giả Pháp, và bằng cách đó, góp thêm tiếng nói tri thức Pháp về mảnh đất thuộc địa vốn chưa hết lạ lẫm.

Trong lời mở cuốn sách, H. Souvignet tỏ ra chân thành và sâu sắc khi bày tỏ mong muốn rằng Bắc Kỳ tạp lục sẽ như “chiếc chìa khóa” giúp người Pháp “len lỏi vào các ngóc ngách trong đời sống tinh thần của người An Nam, bằng cách lĩnh hội và thẩm thấu nhanh những tập tục của họ”.

Trong cái nhìn của H. Souvignet, rõ ràng, chỉ có vốn hiểu biết kĩ càng về An Nam thì mới có thể tránh bị cớm bóng tầng lớp nho sĩ uyên bác ở đây, và nhất là, mới có thâm tình “yêu dân tộc này”.

So với H. Souvignet, những trước tác và đóng góp nghiên cứu của linh mục Léopold Michel Cadière là phong phú và chất lượng hơn. Đến Huế năm 1892, L. Cadière kinh qua nhiều xứ đạo, nhờ đó, có cơ hội thu thập các tài liệu khảo cứu về ngôn ngữ, địa lí, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam.

Bắt đầu từ 1901, L. Cadière lần lượt công bố hàng trăm tiểu luận quan trọng, đặt nền móng cho quá trình tìm hiểu Việt Nam của học giả Pháp về sau. Trong đó, có thể kể đến các chuyên khảo lớn như Địa lý lịch sử Quảng Bình qua thư tịch triều đình (1902), Lũy Thầy ở Đồng Hới (1906), Triết học dân gian Việt Nam: vũ trụ quan (1907-1908); Nhân sinh quan dân gian người An Nam (1915), Dinh trấn các chúa Nguyễn trước Gia Long (1916), Tín ngưỡng và việc thực hành tôn giáo của người An Nam vùng quanh Huế (1918), Nghệ thuật ở Huế (1919), Gia đình và tôn giáo ở Việt Nam (1930),…

Năm 1955, các bài viết của L. Cadière được tuyển chọn và ấn hành thành ba tập lớn lên gần ngàn trang mang tên Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt (Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens). Nhờ L. Cadière, các yếu tính cơ bản trong văn hóa bản địa, lịch sử và con người An Nam bắt đầu vươn tới những vấn đề học thuật lớn, thử thách độ kiên trì và trí óc khảo cứu bài bản của người phương Tây.

Do đó, thay vì đóng vai những kẻ chinh phục, khai sáng thuộc địa, L. Cadière lại đặt mình vào vị thế người của xứ sở này để phơi mở hàng loạt các giá trị còn khuất lấp. Đặc biệt, sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt, chủ đề mà tôi sẽ trở lại ở các bài viết sau, đã được L. Cadière bàn luận say mê, hấp dẫn và sáng rõ trên nhiều phương diện.

Cũng như Souvignet nằm xuống khoảng đất nhỏ bé Phủ Lý, L. Cadière đã chọn nghĩa trang Phú Xuân làm nơi an nghỉ của đời mình. Đấy là những con người, đúng như sở nguyện, được chết trong lòng giáo dân Việt Nam. Nhưng chữ nghĩa và trí lực của họ thì luôn lay động tất cả chúng ta hôm nay.

Các chính khách, viên chức công quyền

Không chỉ đảm nhận sứ mệnh công vụ và hành chính trong bộ máy chính quyền thuộc địa, các chính khách và viên chức còn tỏ ra hăng hái tìm hiểu An Nam trên tất cả các phương diện. Hiểu An Nam, một mặt, để thỏa mãn tâm lí hiếu kì và tò mò “xứ lạ” mà thời đại khám phá (age of exploration), bắt đầu từ thế kỉ XIX, gieo sâu vào đầu óc các nhà thực dân chinh phục.

Mặt khác, quan trọng hơn, chính quyền Pháp không muốn thiết lập một chế độ cai trị lâu dài mà không có một nền tảng tri thức đủ chắc chắn, toàn diện về chính dân tộc bị đô hộ. Ở đây, khi viết khảo tả hay nghiên cứu về An Nam, giới chức công quyền dường như cũng bộc lộ các đề đạt, mong muốn cải cách, xây dựng xã hội thuộc địa của họ. Cần nhấn mạnh điểm này, bởi, khác các nhà truyền giáo, tiếng nói của giới chính khách thường nhuốm màu thực tiễn và sát sườn đời sống chính trị hơn.

Thật khó mà liệt kê đầy đủ các gương mặt viên chức, chính trị gia từng viết về An Nam. Nhưng, để phần nào nhận thấy tình thế trăm nhà đua tiếng, tôi tạm thời nhắc đến vài tên tuổi nổi bật: Pierre Pasquier (1877-1934), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1928-1934, là tác giả của Nước Việt Nam thời xưa (L’Annam dautrefois, 1929); Henri Gourdon (1876-1943), Giám đốc Nha học chính, người đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc cải cách giáo dục năm 1906, là tác giả của Đông Dương (Indochine, 1931) và Nghệ thuật xứ An Nam (L’art de lAnnam, 1933); Gustave Dumoutier (1850 - 1904), Giám đốc Học chính Trung-Băc kỳ, từng viết rất nhiều khảo cứu, tiêu biểu như Lễ tang của người An Nam (Le ritual funéraire des Annamites, 1902) và Các tiểu luận về người Bắc Kỳ (Essais sur les Tonkinois, 1908); Auguste Bonifacy (1856-1931), đại tá chuyên nghiệp nhưng cũng không rời bàn viết với Đạo Phật (Le bouddhisme, 1928); Charles Edouard Hocquard (1853-1911), một bác sĩ quân y đồng thời là nhiếp ảnh gia, đã mô tả Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Une campagne au Tonkin, 1892); các công sứ cũng không chịu thua kém: Paul Ory (?-?) viết Làng xã của người An Nam ở Bắc Kỳ (La commune Annamite au Tonkin, 1894), một cuốn sách nhập môn về làng xã An Nam mà về sau sẽ còn rất nhiều thân danh nhập cuộc; Paul Giran (1875-?) viết Tâm lí người An Nam (Psychologie du Peuple Annamite, 1904) và Bùa chúa và Tôn giáo An Nam (Magie et religion annamites, 1912); đặc biệt, công sứ Charles Robequain (1897-1963) là tác giả của hai công trình nổi tiếng Tỉnh Thanh Hóa (Le Thanh Hoa, 1929) và Xứ Đông Dương thuộc Pháp (LIndochine francaise, 1935)...

Cũng có nhiều viên chức khác, chẳng hạn như Claude Bourrin, tuy chỉ là viên chức ngành thuế bình thường, nhưng lại tỏ ra rất sành sõi trong sự quan sát, phản ánh đời sống xã hội và những ghi chép đó, từ 1898-1914 (Geners et choses en Indochine) sinh động và cuốn hút không ngờ dù chỉ xoay quanh sự việc thường ngày và hoạt động kịch nghệ ở Hà Nội.

Với các chính khách, viên chức công quyền, viết có thể chưa phải là mục đích tối hậu. Tuy thế, bằng việc đọc lại sách vở của họ, chúng ta sẽ nhận diện rõ hơn những vàng thau lẫn lộn ở trong đó. Rõ ràng, không phải tất cả những trước tác này đều thuyết phục về độ chính xác khoa học và nhất là, có thể đạt tới sự thông hiểu An Nam trên tinh thần nhân văn hiện đại.

Bởi vậy, công việc tưởng chừng khó khăn song không nên quá trễ muộn ấy là phải đặt cạnh, trong một sự qui chiếu tri thức tổng thể, các tiếng nói, góc nhìn khác nhau để tránh những đánh giá, quy kết vội vàng. Nhưng trước mắt, dù sao, chúng ta phải kể thêm những kẻ xa lạ, những lữ khách quan trọng khác nữa…

* Đón đọc kỳ 2: Văn chương của ký giả và khảo cứu của khoa học gia

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.