Ngày trở về của trung tá Phạm Văn Đính trong mùa hè đỏ lửa

Như những gì chúng ta đã biết, lúc 11h30' ngày 30/3/1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị-Thiên đã phát lệnh tấn công vào các căn cứ hỏa lực của quân đội Sài Gòn đóng dọc theo vùng giới tuyến nằm trên địa bàn của tỉnh Quảng Trị. Bằng những đợt tấn công dồn dập, trúng mục tiêu của Quân giải phóng, chỉ trong một thời gian ngắn giao tranh đã làm tê liệt hoàn toàn những cứ điểm của địch...

Lúc 14h30' ngày 2/4/1972, trước cơn mưa pháo kích như bão lửa của Trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Bông Lau) và sự tấn công bằng bộ binh của Sư đoàn 304 chủ lực của Đại tá Hoàng Đan. Vòng vây ở căn cứ Carroll của địch đã bị siết chặt, Trung tá Phạm Văn Đính - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 Bộ binh quân đội Sài Gòn đã lên hệ thống truyền tin để xin được gặp người chỉ huy cao nhất của Đoàn Bông Lau, xin ngưng bắn để treo cờ trắng dẫn binh sĩ của mình trở về với Cách mạng.

Đúng một tháng sau, ngày 2/5/1972, trước tình hình vô cùng nguy khốn và thiệt hại nặng nề của các lực lượng tác chiến Việt Nam Cộng hòa (VNCH), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Bộ binh ngụy - Tư lệnh chiến trường Quảng Trị đã tuyên bố triệt thoái để tìm đường tháo chạy về phương Nam, trước khi từng đoàn Quân giải phóng rầm rập tiến về giải phóng Quảng Trị.

Ngày trở về của viên trung tá

Trung tá Phạm Văn Đính, người Thừa Thiên, tốt nghiệp Khóa 9 Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và bắt đầu nổi tiếng khi còn là trung úy chỉ huy liên đại đội Hắc Báo (lực lượng phản ứng cấp thời được thành lập vào năm 1965) theo sáng kiến của chuẩn tướng Nguyễn Văn Chuân - Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ngụy lúc bấy giờ. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Trung tá Đính được thăng cấp rất nhanh, từ thiếu úy lên trung tá chỉ trong vòng 5 năm. 

Rời Hắc Báo, Đính được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3 Bộ binh. Khi tiểu đoàn này hoạt động tại quận Quảng Điền (Thừa Thiên), Tiểu đoàn trưởng Đính được tướng Ngô Quang Trưởng đề cử kiêm nhiệm quận trưởng và được thăng thiếu tá vào tháng 6/1967. Ngày 1/1/1969, thiếu tá Đính là 1 trong 3 tiểu đoàn trưởng bộ binh đầu tiên của Sư đoàn 1 và của Quân lực VNCH được thăng cấp trung tá, sau đó được đề cử giữ chức Trưởng phòng 3  - Bộ Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn 1 Bộ binh (Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy tiền phương lúc đó là Đại tá Vũ Văn Giai). Giữa năm 1970, Trung tá Đính được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn 54 Bộ binh và đến tháng 10/1971 được đề cử làm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 56 khi mới 28 tuổi.

Khoảng 9h sáng ngày 30/3/1972, khi Trung đoàn 2 và 56 hoán chuyển trại và vùng trách nhiệm theo chu kỳ đã định sẵn. Trung đoàn 56 của Trung tá Đính từ căn cứ C2 ở Bắc Cam Lộ di chuyển về hướng Nam , thay thế Trung đoàn 2 ở căn cứ Carroll, căn cứ hỏa lực Fuller và Khe Gió.

11h30', khi đoàn quân còn đang di chuyển, một số chưa kịp vượt qua sông Hiếu, chỉ có một đại đội tác chiến và chỉ huy vừa vào đến căn cứ Carroll thì bất ngờ bị Quân giải phóng tấn công. Pháo 130 ly của Đoàn Bông Lau bắn tràn ngập các mục tiêu.

Ngày 31/3/1972, Trung tá Đính liên lạc với chuẩn tướng Vũ Văn Giai để xin tiếp viện. "Nếu không được tiếp viện, căn cứ chỉ có thể giữ được vài ngày nữa thôi" - Đính báo cáo với tướng Giai. "Ráng chờ, sẽ có tiếp viện, "tướng Giai trả lời. Hôm sau, 1/4, tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân đoàn 1 của Quân lực VNCH đích thân gọi cho Đính. Lạc quan vì nghĩ rằng mình sẽ có tin vui, nhưng tướng Lãm chỉ ra lệnh vắn tắt, là Sư đoàn 3 Bộ binh và Quân đoàn 1 không còn gì để tiếp viện. Trung đoàn 56 phải giữ căn cứ Carroll bằng mọi giá!

Trung tá Phạm Văn Đính nói lời tri ân với Cách mạng.

Trung tá Phạm Văn Đính nói lời tri ân với Cách mạng.

Sáng ngày 2/4/1972, các xạ thủ của Đoàn Bông Lau tiếp tục tập trung hỏa lực tấn công vào căn cứ Carroll. Trung tá Đính liên tục gọi điện về Bộ chỉ huy Sư đoàn 3 để xin tăng viện, nhưng mọi chờ đợi của Đính và thuộc cấp của mình đều chìm trong vô vọng, và điều quan trọng nhất là không nhận được bất cứ câu trả lời cụ thể nào về số phận của Trung đoàn 56.

Biết là vòng vây của Quân giải phóng ngày càng khép chặt trong tình thế không có bất cứ một phương án kháng cự nào khả thi. Trung tá Đính đã lên hệ thống truyền tin để liên lạc xin được gặp vị chỉ huy cao nhất của Quân giải phóng đang nhằm hướng tấn công vào Trung đoàn 56 tại cứ điểm Carroll. Sự kiện này đã được cựu chiến binh Hồ Văn Duyệt kể lại như sau: "Hồi đó tôi là giáo viên Trường Sĩ quan Pháo binh được phái đi phục vụ cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tôi được đi cùng Trung đoàn Pháo binh 38, chi viện cho Sư đoàn 304, tấn công căn cứ Carroll do Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 đóng giữ.

Ngày 2/4/1972, đồng chí Trung đoàn phó pháo binh chỉ huy đài quan sát phải lên Sở chỉ huy Sư đoàn họp, ủy nhiệm cho tôi thay thế tiếp tục thực hiện kế hoạch hỏa lực. Khoảng đầu giờ chiều hôm ấy, một chiến sĩ trực vô tuyến điện báo cáo với tôi: "Có một thằng nó yêu cầu gặp thủ trưởng!", tôi bảo: "Nó phá rối đấy chứ gặp gì, mặc kệ nó". Một lát sau, chiến sĩ lại báo cáo: "Thằng đó xưng là trung tá chỉ huy trưởng xin gặp Sao Hôm". Sao Hôm là mật danh của đài quan sát chỉ huy.

Theo cách xưng hô, tôi đoán là một viên sĩ quan nên tôi cầm máy. "Alô! Tôi là Sao Hôm đây, các anh cần gặp có việc gì?". Phía bên kia trả lời: "Tôi, trung tá Phạm Văn Đính - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 xin được gặp cấp chỉ huy cao nhất. Xin ông cho biết danh tính và cấp bậc".

Nghe câu nói đó, tôi nghĩ tay này chắc được huấn luyện rất chính quy ở bên Mỹ. Riêng tôi, chưa từng dự kiến đối thoại với địch nên lúng túng không biết xưng hô thế nào. Tôi trả lời Trung tá Đính: "Chúng tôi không có thói quen xưng hô tên tuổi cấp bậc với đối phương trong lúc tác chiến, anh gọi tôi là Sao Hôm là được rồi. Tôi không phải là cấp chỉ huy cao nhất, nhưng có thể trả lời những gì anh cần hỏi, nếu quá quyền hạn tôi sẽ chuyển đạt lên cấp trên".

Đính nói: "Tôi đề nghị các ông dừng hỏa lực trong một giờ, chúng tôi muốn thương lượng". Tôi dùng điện thoại báo cáo lên cấp trên, Sư đoàn điện xuống chỉ đạo: "Anh có thể gọi họ là ông, anh bảo nó đầu hàng đi chứ còn thương lượng cái gì". Tôi lên vô tuyến điện trả lời viên trung tá chỉ huy trưởng: "Tôi nghĩ đề nghị của ông không thích hợp, các ông đã mất Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn rồi. Lữ đoàn thiết giáp lên giải vây cho các ông đã bị đánh tan tác, chạy lui rồi. Đông Hà cũng sắp mất. Chắc ông cũng đã nghe tiếng súng máy gần kề rồi. Các ông hạ vũ khí ngừng chiến đấu là tốt nhất. Các ông nên đầu hàng đi".

Viên trung tá trả lời: "Có đầu hàng cũng phải thảo luận các điều kiện chứ". Tôi nói: "Không cần thảo luận đâu! Ông có biết chính sách 10 điểm của Mặt trận giải phóng miền Nam không?". Đính trả lời: "Tôi có biết". Tôi bảo: "Chúng tôi chấp hành đầy đủ chính sách của 10 điểm đó". Đính bảo rằng: "Nhưng tôi cũng cần triệu tập các sĩ quan dưới quyền, họ chỉ huy từng bộ phận rải rác khắp nơi và cần thời gian để họp".

Chỉ huy Sư đoàn vẫn tập trung để theo dõi cuộc trao đổi của tôi với viên trung tá chỉ huy trưởng, đồng thời gọi điện thoại xuống để hướng dẫn cho tôi một số thủ tục. Tôi nói với trung tá Đính: "Vậy thì tôi đồng ý ngừng hỏa lực trong vòng 1 giờ theo yêu cầu của ông. Còn yêu cầu của chúng tôi là ông cho kéo cờ trắng lên cột cờ trung tâm của căn cứ trước khi ngừng hỏa lực. Sau khi ngừng hỏa lực được 30 phút, một nửa số quân của ông phải ra khỏi công sự, lên mặt đất, không mang theo vũ khí".

Ngay sau đó, Đính tập hợp 13 sĩ quan chỉ huy của trung đoàn trong hầm chỉ huy để quyết định. Đính mở lời trước, cho biết tình thế rất tuyệt vọng. Căn cứ không thể cầm cự trước sự tấn công liên tục của Quân giải phóng. Sau đó Đính nói ra ý nghĩ thật của mình, là "Nếu tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ chết. Và nếu chúng ta có bị thương, có chết, để có được một chiến thắng, thì cũng không ai lo cho chúng ta sau đó. Chúng ta bây giờ phải tự lo lấy thân".

Tiếp theo Đính nói về đề nghị của chỉ huy Quân giải phóng. Sau đó Phạm Văn Đính hỏi tất cả muốn tử thủ, đánh mở đường máu, hay đầu hàng? Nếu tất cả các sĩ quan có mặt đồng ý tiếp tục đánh thì trung tá Đính sẽ nghe chiều theo ý họ. Trong số sĩ quan hiện diện, chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 56 lên tiến đòi đánh đến cùng. Số sĩ quan còn lại yên lặng không ý kiến.

Trước sự yên lặng của các sĩ quan, Đính nói về gia đình của họ, về viễn ảnh những vui mừng khi họ được sống sót trở về. Tất cả đều đồng ý đầu hàng, chỉ có Thiếu tá Mãn không bỏ phiếu. Với quyết định đã được đồng thuận, Đính đi qua lô cốt của hai sĩ quan cố vấn Mỹ để thông báo. Nhưng thiếu tá Joseph Brown và trung tá William Camper không đồng ý. Camper đề nghị trung đoàn dùng những chiếc thiết giáp có trong căn cứ đánh bung ra vòng đai mở đường máu. Đính không chịu, nói vô ích.

Lúc này, có một máy bay trực thăng trên đường tiếp tế đạn cho căn cứ Mai Lộc bay ngang qua đó, ghé lại bốc 2 viên sĩ quan Mỹ cùng với khoảng 30 binh sĩ không chịu đầu hàng muốn đi theo 2 sĩ quan cố vấn. Khi chiếc trực thăng cất cánh thì cờ trắng đầu hàng đã bay trên căn cứ Carroll.

Số phận của tướng ngụy Vũ Văn Giai

Chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Vũ Văn Giai sinh năm 1934, tại làng Duy Tắc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định trong một gia đình có cha mất sớm, mẹ làm ruộng nuôi 1 con gái và 3 con trai, ông ta là con trai út trong gia đình. Khi đang theo học lớp Đệ nhị (lớp 11 bây giờ), Vũ Văn Giai đã nộp đơn thi vào Khóa 10 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Vũ Văn Giai ra trường tháng 6/1954, cấp bậc thiếu uý hiện dịch và được thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở cạnh Hồ Tây, Hà Nội, giữ chức trung đội trưởng.

Tháng 7/1954, đất nước bị chia hai, quân đội Quốc gia rút về Nam Việt Nam . Sau hai năm đeo lon thiếu úy, Vũ Văn Giai được thăng cấp trung uý năm 1956, giữ chức đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 5 Nhảy dù ngụy. Năm 1961, ông ta được thăng đại úy, rồi lên thiếu tá năm 1964 khi đang làm Trưởng phòng 2, Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế.

Năm 1966, Vũ Văn Giai được thăng trung tá lúc đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 1 Bộ binh, trấn giữ vùng giới tuyến ở Đông Hà, Quảng Trị. Sau chiến cuộc Mậu Thân năm 1968, Giai lên đại tá và được đưa giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Tiền phương Sư đoàn 1 Bộ binh tại Ái Tử, Đông Hà, Quảng Trị. Sau cuộc hành quân Lam Sơn 1971 ở Hạ Lào, Giai được gắn lon chuẩn tướng.

Tháng 10/1971, Quân lực VNCH thành lập thêm Sư đoàn 3 bộ binh và Giai được thuyên chuyển đến làm Sư đoàn trưởng sư đoàn này. Bộ tư lệnh và hậu cứ chính của Sư đoàn 3 đóng ở căn cứ Ái Tử - Quảng Trị do Mỹ để lại sau khi rút quân.

Không thể kháng cự sức tấn công như vũ bão của Quân giải phóng tại chiến trường Quảng Trị. Tướng Giai đã gọi điện cho trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Tư lệnh Quân đoàn 1 để xin ý kiến, nhưng chỉ nhận được từ tướng Lãm những chỉ đạo chung chung. Chiến trường Quảng Trị nóng lên từng ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cùng với Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đã đáp máy bay đến Huế rồi cho gọi tướng Hoàng Xuân Lãm, tướng Phạm Văn Phú (Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh), tướng Vũ Văn Giai đến Dạ Lê gần sân bay Phú Bài để họp bàn. Theo lệnh của Thiệu, tướng Lãm đã di chuyển Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 ra Mang Cá - Huế để gần với mặt trận hơn.

Cuối tháng 4/1972, tướng Giai gọi điện báo cáo với tướng Lãm về tình hình nguy kịch của quân đội Sài Gòn: "Trình trung tướng, Quảng Trị không còn gì để giữ nữa, nếu cầm cự sẽ mất hết quân, xin trung tướng cho rút lui…". Tướng Lãm không trả lời, trong khi sự tấn công của Quân giải phóng mỗi lúc thêm mạnh mẽ… Hết cách, tướng Giai đã ra lệnh cho các lực lượng ngụy đang có mặt ở chiến trường Quảng Trị rút quân.

Thua trận ở Quảng Trị, ngày 4/5/1972, Vũ Văn Giai bị gọi về Bộ Tổng tham mưu để phúc trình sự việc. Về Bộ Tổng tham mưu, Vũ Văn Giai đến trình diện ở Phòng thanh tra và bị giữ tại Đại đội Tổng hành dinh một tháng. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh truy tố Giai rồi ông này bị chuyển qua Khám Chí Hòa và bị đưa ra tòa. Tòa án Quân sự Sài Gòn kết án Vũ Văn Giai 5 năm tù vì tội "bất tuân thượng lệnh". Đang thọ án, thì miền Nam hoàn toàn giải phóng. Cũng như nhiều sĩ quan cao cấp của quân đội VNCH, Vũ Văn Giai phải đi học tập cải tạo cho đến năm 1987 thì được trả tự do. Năm 1993, Vũ Văn Giai cùng gia đình sang định cư tại bang California - Mỹ theo diện HO

Phan Bùi Bảo Thy

Các tin khác

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

Tháng 7/1996, John Joubert, 33 tuổi, đã bị tử hình vì giết hại 3 người. Y được mệnh danh là kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ - khuynh hướng tàn bạo đầu tiên của y đã bộc lộ từ năm 13 tuổi. Năm 20 tuổi, y đã gây ra ba vụ giết người. 12 năm sau khi bị bắt, y bị xử tử bằng ghế điện. Cái chết đau đớn của y đã trở thành nguyên nhân khiến nhiều tiểu bang của Mỹ bãi bỏ hình thức tử hình bằng ghế điện.

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Voi luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự hiền hòa và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên. Sự nỗ lực bảo tồn của các cấp ngành và người dân suốt nhiều năm đang giúp hồi sinh biểu tượng của một vùng đất nhiều huyền thoại.

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kéo dài suốt 10 năm với rất nhiều công sức chuẩn bị, đầu tư con người, trang bị vũ khí tối tân nhất, tuy nhiên, CIA chỉ nhận được những bản báo cáo giả; chi viện lực lượng, vũ khí theo kế hoạch của an ninh miền Bắc.

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc chặng đường 21 trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thành công đó phải kể đến những đóng góp thầm lặng của CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị tiền thân của Phòng Bảo vệ 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

10 năm chịu đòn tra tấn trong ngục tù, 10 năm chờ đợi một tình yêu, đất nước được giải phóng, họ nên duyên vợ chồng. Đó là câu chuyện về một thế hệ yêu nhau thủy chung trong gian khó. Tình yêu của họ chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc...

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Phòng quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với Phòng An ninh điều tra và Công an các xã (đặc biệt là tuyến biên giới), đồn biên phòng siết chặt quản lý lưu trú và quản lý xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu, phối hợp tuần tra, kiểm soát. Chỉ trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, các đơn vị phối hợp đã kịp thời phát hiện, xử lý hàng trăm đối tượng vi phạm pháp luật, ngăn chặn hàng trăm trường hợp không đủ điều kiện nhập cảnh vào trong nước, bắt giữ hàng chục đối tượng có tiền án giao cho Công an các địa phương xử lý theo pháp luật; khởi tố nhiều băng nhóm tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú trái phép…

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai “trò chơi nghiệp vụ” khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi những con suối reo vang hòa cùng tiếng gió ngàn của xã biên giới Avương (Đà Nẵng), có một “ngọn núi lớn” trong lòng đồng bào Cơ Tu. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Arất Blư. Ở tuổi 88, đôi chân ấy có thể đã chậm, mái đầu đã bạc trắng như sương sớm, nhưng ký ức về một thời hoa lửa và cái tâm sáng của một người Cộng sản vẫn rực cháy như ngọn lửa thiêng giữa nhà Gươl.

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trải qua những trận đánh giữa lòng Sài Gòn, nếm đủ đòn roi tra tấn thảm khốc trong lao tù, ông dường như đã chai sạn trước cái chết. Bản lĩnh của một cựu tù Côn Đảo trở về từ “địa ngục trần gian” giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Trưởng Công an xã những ngày mới giải phóng.

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.