Y Dơn – Dã quỳ vàng của Tây Nguyên nắng gió

Hồi mới lên nhận công tác ở Ty Văn hóa Gia Lai Kon Tum, trong cơ quan có mấy ông cũ cũ nhàu nhàu trông rất... tức cười. Một ông thì cả ngày cứ lầm lì, chả nói gì, ngồi như tượng, lúc nào không làm tượng thì ông vẽ. Thi thoảng rỗi nữa ông ngồi phơi nắng và tranh thủ bắt những con kỳ nhông trên những gốc thông cổ thụ xù xì... 

Sau mấy ngày thì tôi biết đấy là ông Xu Man, người Bahnar, một họa sĩ nổi tiếng. Ông này sau thành thầy tôi về mấy mặt, trong đấy quan trọng là những hiểu biết về Tây Nguyên, về Bahnar của ông. Chơi với ông mấy chục năm, ngày ông mất ở Plei Bông là giáp Tết, chính xác là 30 Tết thì đưa, tôi cùng 2 bạn nữa từ Pleiku xuống làng đưa ông về nơi thiên cổ...

Ông thứ hai còn kỳ dị hơn nữa. Luôn đeo một cái xắc cốt, mà ông lại lùn, cái quai xắc cốt lại dài, nên nó cứ lệt xệt, đã thế lại dận một đôi dép cao su, tóc tai bơ phờ, chắc rất ít dùng đến lược và dầu gội, trông ông như một bố bản ở đâu phía Bắc lạc đến. Sau mới biết, té ra ông là Y Dơn, một nghệ sĩ “Nhân dân” thứ thiệt, tức là nghệ sĩ của nhân dân chứ ông chả được phong danh hiệu gì cho đến khi mất.

Thực ra từ đầu tôi chả biết ông là ai, như thế nào. Cơ quan có đến mấy người họ Y, họ A như Y Dơn, Y Vin, A He, A Thiên Xương… chỉ biết các bác là người bản địa Tây Nguyên, tập kết ra Bắc, giờ trở về quê công tác, thuộc thế hệ lớp trên. Tôi trẻ, chỉ tìm mấy người trẻ chơi. Trừ ông Xu Man, cùng phòng, và lại sát cái phòng tập thể tôi ở, thi thoảng ông gọi tôi sang uống rượu, mồi là mấy con kỳ nhông ông bắt tự bữa nào, thế mà nướng lên, đêm mùa khô tê lạnh, rượu vào thun thút chuyện ra ào ạt…

Cho đến một hôm, tôi đi công tác cùng ông Y Dơn. Hôm ấy khá đông, một cái U oát tải và một xe Zeep, đổ xuống làng. Chiều. Làng hiu hắt, nắng loe xoe, dân làng đi rẫy chưa về, ở làng chỉ còn trẻ con và người già, trong nhà thoang thoảng mùi thịt phơi trên gác chưa khô. Trước khi đi ông Xu Man có dặn tôi, cứ thấy ông Y Dơn làm gì thì làm nấy, là sống khỏe hàng tháng ở làng.

Thì lúc này ông đang lên nhà rông. Tôi cũng lên. Ông lấy trong túi ra cái võng, mắc sát tường, tôi cũng thế. Ông ngồi lên nhún nhún rồi… nằm xuống, tôi cũng vậy. Đoàn đi công tác có kết hợp phục vụ chiếu phim cho bà con, có mang theo đồ ăn là bánh mì thịt. Tranh thủ ăn, tôi và ông cùng ăn. Xong ông lim dim trên võng thì tôi ngồi… ngắm ông.

Đến lúc dân làng bắt đầu lục tục về thì ông bật dậy, và tôi thấy ông hoạt bát hẳn. Ông nói, ông cười và ông… hát. Bà con lăn lộn cười. Ông nhún, ông nhảy, ông đi lò cò, ông nghiêng người đi vòng tròn, đã nhất là ông… quay đít lại, khom người xuống, vỗ mông bồm bộp làm nhịp và hát.

Bà con lại ồ lên cười, chảy cả nước mắt. Tôi hỏi một chị trong đoàn, ổng hát gì mà bà con khoái thế, chị bảo: ông ứng tác tại chỗ, hát ngay, kể lại xuống làng, thấy làng bẩn ra làm sao, trẻ con nhiều quá, đẻ ít thôi, ông hướng dẫn cả cách thực hiện sinh đẻ kế hoạch nữa… bằng lời hát, rất tự nhiên.

Té ra ông Y Dơn là một người, rất tài. Ngay tại chỗ, tức thì, căn cứ vào tình hình cụ thể, ông có thể… ngoáy mông và hát ngay, ứng tác tại chỗ. Điều quan trọng là, sau đấy, khi chiếu phim hoặc đội thông tin lưu động (Một thiết chế của ngành văn hóa thông tin thời ấy) biểu diễn, bà con không hào hứng đến thế như khi nghe Y Dơn ngoáy mông và hát.

Trong kho tàng dân ca Tây Nguyên thấy có bài hát là “Gặt lúa đông xuân” được nhiều người hát trong các cuộc hội diễn, đặc biệt là các hội diễn liên quan đến dân ca mà ngành văn hóa hay tổ chức, nhiều ca sĩ nổi tiếng đã thu âm bài này, đã hát ở nhiều sân khấu, ai cũng giới thiệu là dân ca.

Một hôm tôi cắc cớ hỏi: Ơ lúa đông xuân là do người Kinh mới mang vào từ sau 1975, khi đã áp dụng hợp tác xã như ngoài Bắc và có các công trình thủy lợi, chứ trước đấy đồng bào làm gì có lúa đông xuân, chỉ có lúa rẫy mỗi năm một mùa thôi chứ, và đặc biệt là đồng bào tuốt lúa bằng tay chứ không gặt. Mấy nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và âm nhạc mới à lên, và sau đấy quả quyết, đấy là bài hát của ông Y Dơn sáng tác.

Nó cũng như một thời hàng loạt bài thơ Tây Nguyên đều ghi Ngọc Anh sưu tầm, trong đó có lời bài hát nổi tiếng “Bóng cây Knia” cũng ghi lời Ngọc Anh sưu tầm dân gian Tây Nguyên. Dân gian gì mà có nước nguồn miền Bắc… mãi sau mới khẳng định, nó là của chính nhà thơ Ngọc Anh sáng tác, vì khiêm tốn hay lý do gì đấy nữa mà ông không ghi mình là tác giả, để tận sau khi ông mất đi, đồng nghiệp và đồng đội mới mày mò tìm, nghiên cứu rồi trả lại tên cho ông.

Ở đây Y Dơn cũng thế, ông cứ mặc cho người ta giới thiệu là dân ca, và ngay ông cũng rất hay hát bài này khi xuống làng. Một người có khả năng ứng tác tại chỗ, sáng tác, có những bài hát nổi tiếng được nhiều người hát; bản thân ông là người hát rất hay, mỗi khi xuống làng thì ông là trung tâm chứ không phải già làng, cũng không phải lãnh đạo xã, thế nhưng chả bao giờ ông nhận mình là nghệ sĩ, là nhạc sĩ, chỉ nhận là Y Dơn thôi.

Và vì thế, đi cùng ông không bao giờ lo… đói. Ông cứ say sưa hát sau khi đã căng cái võng vào một góc nhà rông. Thế nào đến bữa bà con cũng mời ông ăn. Của đáng tội, thời kỳ đầu, bà con dân tộc dưới làng rất quý khách. Khách đến làng là khách của chung cả làng, mỗi nhà sẽ mang tới một ít thức ăn nhà mình có. Người mang cơm, người mang canh, người mang cá, mang thịt… và khách nhớ là phải ăn đều của từng nhà, không sẽ bị trách. Nhưng ông Y Dơn thì xịn hơn. Ông sẽ có rượu, ít nhất là một ghè, có con gà, v.v.v.

Dã Quỳ vàng trên khắp các nẻo đường Tây Nguyên.
Dã Quỳ vàng trên khắp các nẻo đường Tây Nguyên.

Thực ra thì tôi chỉ đi xuống làng với ông có vài lần, nhưng cũng thấy và biết rõ là khi về làng ông trở thành người khác, không lù đù chậm chạp như khi trên phố. Ông như cá gặp nước. Ông hát từ “gặt lúa đông xuân” đến sinh đẻ kế hoạch, từ bình dân học vụ đến vào hợp tác xã, từ đừng theo fulro đến định canh định cư…

Tóm lại là một người chuyển chính sách của Đảng và nhà nước sang thành âm nhạc rất giỏi. Và quan trọng là nhân dân yêu tiếng hát của ông, thấy ông chính là một phần đời sống của họ. Nhà nước thì có lẽ cũng thấy ông là một phần của mình nên rất khuyến khích ông xuống làng. Có lúc tôi hình dung ông giống như ông Abutalip của vùng Đaghestan thuở nào…

Quả là cái thời đầu tiên ấy, tôi cũng không nhớ ông biên chế ở phòng nào trong Ty Văn hóa nữa, cứ thấy các xắc cốt, ông xà chỗ này tẹo, chỗ kia tí… rồi ông lặng lẽ về hưu lúc nào không biết. Cả chục năm sau tôi mới biết là ông về một làng của huyện Ea Hleo sống, lấy thêm một cô vợ trẻ, rồi ông mất ở đấy…

Nhưng hồi ấy, bảo đảm xuống tất cả các buôn làng của các tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Đắk Lắk… hỏi dân, ai cũng biết ông Y Dơn. Rất nhiều người phong cho ông là nghệ sĩ nhân dân và nhiều người cũng nhầm ông là nghệ sĩ nhân dân thật. Quả là có nhiều nghệ sĩ nhân dân mà nhân dân không biết, nhưng ông, không cơ quan nào phong cho ông, nhưng dân luôn coi ông là nghệ sĩ của họ, của nhân dân.

Té ra ông là người đã từng được Pháp chọn cho đi học trường Pháp ở Buôn Ma Thuột từ thời còn nhỏ. Từng làm hiệu trưởng một trường học trong kháng chiến. Rồi tham gia kháng chiến, đã từng cùng nhà văn Nguyên Ngọc và nhạc sĩ Nhật Lai làm thành một nhóm “hát rong”, dùng tiếng hát để tuyên truyền cho kháng chiến, cho cách mạng.

Mà cái gánh hát này đi xuyên Tây Nguyên. Rồi sau đó ra Bắc, chuyên hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong chương trình cho đồng bào miền Nam, và đặc biệt là đồng bào Tây Nguyên. Ông là người đã được giải thưởng âm nhạc Hoàng Mai Lưu, giải thưởng dành cho người có công trong việc bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc.

Ông là người thứ 2 được giải thưởng này, người đầu tiên là nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu. Nếu ai xem phim “Đất nước đứng lên” thì sẽ thấy ông, ông đóng vai già làng trong phim ấy, và đấy là những hình ảnh cuối cùng về ông…

Y Dơn là thế, một người Tây Nguyên đặc biệt. Ông là hiện thân của Tây Nguyên, nghệ sĩ, đa tài, lặng lẽ nhưng sôi nổi, sống hết mình và cháy cũng hết mình cho khát vọng của mình. Một con người sống khổ, rất khổ, về vật chất, nhưng lại rất hạnh phúc và sung sướng vì được sống như những gì mình muốn, mình thích. Bỏ qua tiện nghi, bỏ qua các bó buộc đời thường, ông như loài dã quỳ cứ vươn lên rực rỡ trong thời tiết khắc nghiệt của buôn làng Tây Nguyên, càng khô khát, càng nắng gió, càng lạnh giá thì lại càng tươi mởn, càng là mình nhất…

Văn Công Hùng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.