Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-2012)

Vũ Trọng Phụng - Tài năng và thời cuộc

Trong những nhà văn của dòng văn học hiện thực 1930 -1945, nổi lên Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài. Mỗi nhà văn đều có một phong cách và tài năng riêng, không dễ chọn ngôi vị đầu. Nguyễn Công Hoan vạm vỡ, Ngô Tất Tố sắc sảo và uyên thâm, Vũ Trọng Phụng hiện đại và toàn năng, Nam Cao trí tuệ và nhân ái, Tô Hoài đậm bản sắc dân tộc. Những nhà văn trên có đóng góp quan trọng vào nền văn xuôi hiện đại, các tác phẩm có giá trị bền vững.

Nói đến Vũ Trọng Phụng chính là nói đến thời cuộc và tài năng. Một lần nhà văn Nguyễn Khải nói: "Với tôi, quan trọng là nhờ cái thời". Đó là một cách tự nhận xét chân tình. Thời thế tạo anh hùng, câu nói đó vẫn có ý nghĩa riêng, thích hợp với những tài năng được thời thế góp phần tạo nên.

Vũ Trọng Phụng "gặp thời". Thời kỳ 1930-1945 là một bước phát triển mới rất khác biệt với chặng đường trước. Những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng đã mang tầm vóc và kích cỡ của những thành phố hiện đại. Đã có hàng trăm nhà xuất bản và tờ báo. Năm 1938 với 308 tờ báo là năm báo chí phát triển mạnh nhất so với toàn bộ chặng đường trước ("Lịch sử báo chí Việt Nam (1865-1945)", Đỗ Quang Hưng chủ biên, NXB Đại học, 2000). Dư luận xã hội rộng mở trong điều kiện của thời kỳ mặt trận dân chủ. Về giáo dục, đã có nhiều trường đại học, số lượng sinh viên, học sinh đông đảo góp phần tạo nên một lớp công chúng mới trong văn học. Về sinh hoạt xã hội, nhiều rạp chiếu bóng, rạp hát, vũ trường hoạt động, đêm Hà Nội sầm uất không khí chơi bời. Về mặt trái của thành thị bộc lộ rõ qua nhiều mặt, quyền lực chính trị đã siết chặt qua nhiều hoạt động, đồng tiền lên ngôi, nạn mại dâm, đĩ điếm, cờ bạc phát triển. Đời sống thành thị bộc lộ những mặt đối lập rõ rệt trên nhiều phương diện. Thời cuộc là thế, làm sao nhà văn miêu tả được những bức tranh xã hội phức tạp, nhiều mâu thuẫn đó.

Văn chương Việt Nam trước đây có thế mạnh viết về nông thôn. Có một khoảng trống là viết về thành thị. Nhiều nhà văn có tài năng nhưng cũng chưa có những tác phẩm thành công về thành phố. Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đã chạm đến những vấn đề của đô thị nhưng chưa đi sâu, chưa khái quát, chưa tạo được điển hình và sức hấp dẫn cho trang viết. Nguyên Hồng là nhà văn của những xóm thợ nghèo khổ. Nam Cao viết giỏi về làng quê và người trí thức nghèo tự thu mình lại trong những suy nghĩ nội tâm. Tô Hoài rất thành công về người ven thành và chưa vào sâu được đề tài Hà Nội. Nhà văn Nguyễn Đình Thi có lần cho rằng: "Chỉ có Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Huy Tưởng là viết thành công về đề tài thành thị". Tất nhiên cũng phải kể đến những trang viết của Tự lực văn đoàn, song tác phẩm vẫn thiên về tầng lớp trên trong phạm vi gia đình, tình yêu, hôn nhân.

Giáo sư Hà Minh Đức trình bày tham luận tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 22/10/2012.
Giáo sư Hà Minh Đức trình bày tham luận tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 22/10/2012.

Nói thời cuộc là nói về yếu tố khách quan, còn khả năng tiếp cận, suy nghĩ, tái tạo lại thuộc về khả năng chủ quan. Vũ Trọng Phụng là người quy tụ đầy đủ những điều kiện để "tiến công" vào thành trì vững chắc này. Ông sinh ra ở Hà Nội và sống trọn đời với thành phố lớn tiêu biểu này. Có thể nói Vũ Trọng Phụng hiểu cái đáy của xã hội không phải từ trên nhìn xuống, từ ngoài nhìn vào mà là người nhập cuộc để thấu hiểu và đưa vào trang viết. Vũ Trọng Phụng cũng am hiểu bản chất xấu xa của thực dân Pháp và tổ chức chính trị, guồng máy cai trị, những nhân vật gọi là tai to mặt lớn.

Vũ Trọng Phụng là người công dân, là nhà báo, là người trí thức. Kết hợp giữa những tri thức, những hiểu biết với vốn sống thực tế, ngòi bút Vũ Trọng Phụng có những phẩm chất hài hòa và sắc bén không dễ mấy người viết có thể dễ dàng tạo nên. Theo ký ức của nhà báo Thiều Quang: "Anh rất ham đọc, khởi điểm từ cái văn học cổ điển Pháp với những cây bút độc tú của Molierè, Racin, Corneille qua Voltaire, Balzac, rồi đến cái chủ tả chân cực thịnh của Flaubert, Guy de Maupassant thì dừng lại. Trong cái hệ thống văn chương chửi đời đó, Vũ Trọng Phụng hồ như tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu, đồng tình". Bùi Huy Phồn cũng kể lại: "Tôi liếc nhìn xung quanh chỗ Vũ Trọng Phụng nằm, thấy la liệt một số sách và báo tiếng Pháp, như Nhân đạo (L' Humanité) của Đảng cộng sản Pháp, báo Gringoire của Đảng xã hội, hầu hết là những tờ báo tiến bộ Pháp bấy giờ". Vũ Trọng Phụng cũng quan tâm tìm đọc những tác phẩm của văn học Pháp, của A. Gide, của Freud về phân tâm học, về con người sinh lý, những điều mà ông cần tìm hiểu cho trang viết của mình.

Về ý thức và nhân cách của người viết, trước những hiện tượng tiêu cực của đời sống mà tác giả phải nhập cuộc để tìm hiểu, Vũ Trọng Phụng khảo sát kỹ những hiện tượng phức tạp, tại chỗ, từ tư liệu gốc để viết những phóng sự như "Kỹ nghệ lấy Tây", "Cơm thầy cơm cô". Ở những trường hợp phức tạp hơn, ông không nhập cuộc mà khai thác gián tiếp qua lời kể của người thân để viết. Vũ Trọng Phụng đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Tuy nhiên, sự đánh giá về ông qua một chặng đường dài trên nửa thế kỷ cũng gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Đương thời người ta ca ngợi nhưng cũng có những ý kiến ghét bỏ, cho là Vũ Trọng Phụng đã khai thác nhiều mặt xấu, nhiều chuyện đáng kiêng kỵ. Sau Cách mạng Tháng Tám, Vũ Trọng Phụng cũng không được thuận chiều như các nhà văn Ngô Tất Tố, Nam Cao. Trong trường đại học, trong nghiên cứu thường nêu vấn đề Vũ Trọng Phụng với hai điểm yếu, hai dấu hỏi về thái độ chính trị và miêu tả cái dâm. Dần dà theo thời gian, mọi việc được giải tỏa và nói như Xuân Diệu về nguyên lý Archimède "cái gì nổi thì nhất định sẽ nổi".

Qua một số lần kỷ niệm về ngày sinh và ngày mất, Vũ Trọng Phụng đã trở về với tư cách một nhà văn xuất sắc, một tài năng hiếm có của nền văn học thế kỷ XX. Trong lần kỷ niệm 90 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học tổ chức vào năm 2002, Vũ Trọng Phụng được khai thác, nghiên cứu và tôn vinh về nhiều mặt. Cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm Vũ Trọng Phụng ngoài những nhà nghiên cứu trong nước không chỉ thuộc về phần văn học hiện đại mà có nhiều nhà nghiên cứu vốn là chuyên gia về văn học nước ngoài cũng nhiệt tình tham gia như Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, Lộc Phương Thủy. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu với tinh thần của thi pháp hiện đại cũng có những bài viết hay về Vũ Trọng Phụng. Trong cuộc hội thảo có sự tham gia của Niculin (Nga) và Zinoman (Mỹ). Niculin nhấn mạnh đến tính chất hiện đại và xu hướng hiện đại hóa của Vũ Trọng Phụng khác với những khuynh hướng hiện đại hóa theo lối học đòi phương Tây của Phạm Quỳnh.

Trong một công trình nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam , tác giả nhận xét Vũ Trọng Phụng chú ý miêu tả hai loại người trong xã hội "những kẻ bị quyền lực của đồng tiền dìm xuống đáy xã hội và những kẻ nhờ thói bịp bợm, bỉ ổi đã đạt tới sự giàu sang và danh giá". Vũ Trọng Phụng miêu tả cuộc sống của những tầng lớp xã hội khác nhau trong sự vận động và trong sự biến đổi. Zinoman vốn là một nhà nghiên cứu sử học, sau khi đọc tác phẩm "Người tù được tha" của Vũ Trọng Phụng, ông say mê tìm đến tác giả qua những cuốn tiểu thuyết và nhấn mạnh bản sắc hiện đại trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Ông đặc biệt ca ngợi tác phẩm "Số đỏ" đã vượt khỏi giới hạn và phong cách miêu tả quen thuộc kết hợp giữa sự thực và phóng đại, lối kể chân thực và trào phúng tạo dựng một thế giới chân thực mà đặc sắc. Nhà văn Niculin cũng đặc biệt ca ngợi "Số đỏ" "đã sử dụng những thủ pháp phóng đại khi vẽ một gã phiêu lưu khác ấy là Xuân Tóc Đỏ, một kẻ chuyên nhặt banh quần vợt nhưng sự ngẫu nhiên một cách ngược đời và sự ngu xuẩn đến mực phi lý của xã hội đã đưa y lên đỉnh vinh quang".

Kỷ niệm 90 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng, Giáo sư Zinoman cảm phục trước tài năng, sức làm việc của nhà văn. Zinoman nhận xét Vũ Trọng Phụng chỉ sống đến 27 tuổi. Ở tuổi ấy, nhà văn Pháp Balzac hầu như chưa viết được gì đáng kể" (Báo Thể Thao & văn hóa số ra ngày 22/10/2002). Trong một lần phát biểu trên Đài Tiếng nói Việt Nam, ông còn cho rằng Vũ Trọng Phụng không thua kém bất kỳ một nhà văn lớn nào trên thế giới, đặc biệt sức sáng tạo to lớn đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ trong vòng 9/10 năm sáng tác. Ngày nay, nhiều thanh niên Việt Nam ở tuổi 27 còn đang tìm việc hoặc bắt đầu khởi nghiệp thì Vũ Trọng Phụng đã kết thúc sự nghiệp lớn lao của mình với nhiều tác phẩm bất hủ.

Đi sâu vào tìm hiểu Vũ Trọng Phụng, các tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Đỗ Đức Hiểu, Phan Cự Đệ, Lê Thị Đức Hạnh, Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân đều có những bài nghiên cứu sâu sắc. Đặc biệt, nhà văn Lại Nguyên Ân có công sưu tầm nhiều tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, tạo điều kiện để có một cái nhìn sâu sắc, toàn cảnh về tác phẩm Vũ Trọng Phụng.

Qua những tác phẩm của mình, Vũ Trọng Phụng là người đặt được nhiều vấn đề xã hội như thành thị và nông thôn (qua "Vỡ đê", "Cơm thầy cơm cô", "Giông tố"), bản chất của đời sống thành thị, xu hướng hiện đại hóa, thành quả và hậu quả (qua các phóng sự và tiểu thuyết "Số đỏ"), tình trạng biến chất, tha hóa con người trong xã hội hiện đại; những tệ nạn xã hội tràn ngập và đâu là phương thức cứu chữa. Ở mỗi vấn đề đều được chứng minh bằng câu chuyện, sự kiện, nhân vật góp phần vào sự nhận biết hiện thực, khơi gợi suy nghĩ và thái độ người đọc. Tôn trọng sự thực, lấy sự thực là chuẩn mực, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ rõ thái độ qua trang viết. Tuy nhiên, đề xuất vấn đề và cách giải quyết là những việc khác nhau. Vũ Trọng Phụng cũng có lúc đưa ra những đơn thuốc ngây ngô. Tuy nhiên, nói như Nguyễn Tuân: "Nhiệm vụ của nhà văn là phát hiện con bệnh, còn kê đơn và chữa bệnh lại như vượt khỏi khả năng của người cầm bút". Phát hiện đúng căn bệnh của xã hội để mọi người có một thái độ cũng là một đóng góp quan trọng.

Trong các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, "Số đỏ" được xem là một tuyệt tác. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng: Vũ Trọng Phụng sáng tạo một loại tiểu thuyết mới, tiểu thuyết cười, tiểu thuyết đa thanh, đa âm, đa sắc diện. "Số đỏ" là một siêu tiểu thuyết và nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một siêu nhân vật. Nhân vật Xuân Tóc Đỏ đã vượt khỏi giới hạn của một hoàn cảnh, một thành thị mà trở thành một nhân vật phiêu lưu, có mặt ở nhiều cảnh ngộ trong nhiều nước. Xuân Tóc Đỏ được xem là một điển hình của văn học hiện thực thời kỳ 1930-1945. Zinoman có liên hệ tác phẩm "Số đỏ" với bộ phim "Vua lưu manh" (Le roi des resquilleurs) - một bộ phim được ưa chuộng ở Pháp, một tên lưu manh, tinh ranh, bịp bợm của thành thị đã "thành công nhờ một chuỗi may mắn khác thường cũng với những mưu mô xảo quyệt". Không riêng gì "Số đỏ", các tác phẩm "Giông tố", "Vỡ đê" của Vũ Trọng Phụng đều là những tác phẩm có giá trị trong thời kỳ mặt trận dân chủ xuất hiện nhiều loại nghị viên như Nghị Quế ("Tắt đèn" - Ngô Tất Tố), Nghị Lại ("Bước đường cùng" - Nguyễn Công Hoan) và Nghị Hách. Các ông Nghị trên đều có cá tính riêng nhưng Nghị Hách là sắc sảo hơn cả. Nghị Hách tập trung những nét tiêu biểu của một kẻ giàu có, làm giàu bằng những thủ đoạn nham hiểm, bằng tội ác và cũng là một loại người ăn chơi hưởng lạc. Xuân Tóc Đỏ và Nghị Hách là hai kiểu nhân vật có nhiều nét chung, một bên là kẻ cùng khổ đầu đường xó chợ, dùng nhiều mánh khóe bịp bợm mà thành "người hùng" và một bên trở thành triệu phú nhờ những âm mưu lừa gạt.

Ở Việt Nam , các tác phẩm "Số đỏ", "Giông tố" đều được dựng thành phim. Cốt cách và giá trị văn học của các tác phẩm đã tạo cho các bộ phim nhiều nét đặc sắc. Tác phẩm "Số đỏ" cũng được Giáo sư Zinoman dịch ra tiếng Anh và được xem là một trong số 50 sách dịch hay ở nước Mỹ.

Nói đến tiểu thuyết phải nói đến nhân vật, Vũ Trọng Phụng có tài khắc họa nhân vật. Trong tác phẩm "Số đỏ", mỗi nhân vật có một vóc dáng riêng, tính cách riêng, từ những tên gọi như bà Phó Đoan mà không đoan chính; ông Văn Minh nhưng thực sự là thụ động, bế tắc; các tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa; rồi ông Lang Tỳ, Lang Phế cho đến em Chã, cụ cố Hồng... Mỗi người đều có những đặc điểm qua hành động, qua ngôn từ. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng trong "Số đỏ" có những làn sóng ngôn từ hấp dẫn bất hủ, tiếp nối và đan xen nhau qua những lời thoại độc đáo. Vũ Trọng Phụng am hiểu xã hội, các loại người đến chân tơ kẽ tóc để góp phần tạo dựng nhân vật. Ngoài tiểu thuyết, trên dòng phát triển của văn xuôi, Vũ Trọng Phụng cũng có nhiều truyện ngắn hay.

100 năm đã qua kể từ ngày sinh, và hơn 70 năm kể từ ngày mất, Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp quan trọng cho văn chương Việt Nam thời kỳ hiện đại. Từ cuộc đời và tác phẩm của ông có thể giúp chúng ta suy nghĩ về chuyện văn chương và cuộc sống, hôm qua và hôm nay.

Hà Nội, tháng 10/2012

Hà Minh Đức

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.