Viết nhiều và viết ít

Trong thế giới sáng tác, dễ nhận thấy rằng có những người viết rất nhiều và có những người viết rất ít. Những trường hợp viết nhiều ở Việt Nam có thể kể đến như Lê Văn Trương với hàng trăm cuốn tiểu thuyết và viết ít như Juan Rulfo, một nhà văn lừng danh người Mêxicô chỉ có một cuốn tiểu thuyết rất mỏng và vài truyện ngắn.

Tôi dẫn ra ví dụ trái ngược điển hình này để so sánh. Dù viết rất ít nhưng Juan Rulfo vẫn được coi là một trong những người khai sáng vĩ đại nhất của văn học Mỹ La Tinh. Nhiều người vĩ đại khác đã ngả mũ  trước ông, ví như García Márquez đã từng ao ước rằng nếu viết được một cuốn như của Juan Rulfo thì ông sẵn sàng bỏ bút. Và cuốn tiểu thuyết mỏng mảnh nhưng vô cùng độc đáo của Juan Rulfo là "Pedro Páramo" đã được tái bản gần đây ở Việt Nam với bản dịch của Nguyễn Trung Đức và được sự hoan nghênh nhiệt liệt của giới đọc sách tinh hoa.

Còn Lê Văn Trương, một tiểu thuyết gia Việt Nam thời tiền chiến, ông đã viết hàng trăm tiểu thuyết nhưng bây giờ liệu có mấy ai nhớ được một cuốn tiểu thuyết của ông? Thậm chí nhà thơ Nguyễn Vỹ, bạn tâm giao của Lê Văn Trương khi nghe bạn mình than thở về đời văn thì Nguyễn Vỹ đã bảo ông hãy chọn một cuốn xuất sắc nhất của mình để Nguyễn Vỹ phê bình, giới thiệu cho  thật hoành tráng thì chính Lê Văn Trương đã ngán ngẩm bảo rằng: "Cả trăm cuốn của tao viết đều hay nhưng làm gì có cuốn nào hay nhất để chọn!".

Nhà văn Lê Văn Trương - một trong những người viết nhiều tiểu thuyết nhất Việt Nam.
Nhà văn Lê Văn Trương - một trong những người viết nhiều tiểu thuyết nhất Việt Nam.

Câu nói của Lê Văn Trương đương nhiên là một lời nói đùa. Lời nói đùa cay đắng nhưng có sự thật trong đó. Cả trăm tiểu thuyết của Lê Văn Trương viết đều hay thì thứ hay là cái gì mà chính tác giả cũng không nhớ nổi! Câu chuyện về Lê Văn Trương chứa đựng ít nhiều ý nghĩa và những bài học về sự viết. Tất nhiên ngày nay nhắc đến Lê Văn Trương, người ta thường chỉ nhớ đến một tác giả có sức viết "khủng" mà thôi.

Cho nên khi tôi nghe thấy một người khác khoe rằng số tác phẩm của anh ta đã xếp cao bằng đầu mình, tôi chỉ cười. Lại có một Lê Văn Trương thứ hai nữa chăng! Với những người như thế, ta chỉ coi tác giả là anh lực điền chăm chỉ cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa.

Tôi rất nhớ câu nói của M. Cervantes, người được coi là người khai sinh của tiểu thuyết hiện đại châu Âu, tác giả của bộ tiểu thuyết "Don Quijote xứ Mancha" lừng danh. Cervantes đại ý nói rằng, dẫu có hay đến mấy mà viết nhiều quá cũng thành nhàm và nếu viết ít, thì dù không xuất sắc vẫn có thể tìm được một cái gì đó có giá trị.

Thế nhưng cái thời của chúng ta đã cách Cervantes mấy trăm năm thì  nghề văn đã khác xưa nhiều lắm. Ngày xưa văn chương có lẽ chưa trở thành nghề kiếm sống như bây giờ, nó là một thú vui nhiều hơn, nhất là đối với các nhà văn thuộc các nước Á Đông, văn chương ít khi trở thành thứ hàng hóa mang lợi ích vật chất nuôi sống người viết, nó đơn giản là thú vui của các bậc tao nhân, mặc khách. Ngày nay, có rất nhiều nhà văn chuyên nghiệp, họ viết văn để kiếm sống.

Tiền tác quyền, tiền nhuận bút là khoản chính để nuôi sống bản thân và gia đình. Nếu như nhà văn viết ít quá thì lấy gì để mưu sinh. Điều này thấy rất  rõ qua những thế hệ nhà văn tiền chiến người Việt như Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Hồ Biểu Chánh... đã từng viết như điên để sống. Kể cả trường hợp như Lê Văn Trương kể trên cũng vậy, ông viết nhiều cũng một phần vì sự mưu sinh của mình.

Một sự thực cay đắng với nhiều người là nếu không viết văn thì nhà văn  làm gì? Rất ít người có thể làm nghề khác như công chức, buôn bán, viết báo... hoặc một công việc khả dĩ để sống. Và điều đáng nói nhất nếu không viết, anh ta sẽ có một khoảng thời gian dài dằng dặc nhàm chán. Đa số nhà văn mắc bệnh cuồng viết, nếu không viết, anh ta không thể chịu đựng nổi và ngoài mưu cầu cuộc sống thì ai cũng mong tác phẩm sau của mình sẽ hay hơn tác phẩm trước và cứ thế tiếp tục sản sinh dù đôi khi ước mơ không đi liền với kết quả.

Nhưng viết ít thì tác phẩm sẽ hay chăng? Không có gì đảm bảo cho điều đó. Một nhà văn đương đại có tiếng một lần nói với tôi: Nhà văn thì phải có sự nghiệp. Sự nghiệp là gì? Sự nghiệp là một lượng tác phẩm tương đối để có thể đánh giá tầm vóc của anh ta. Cả đời chỉ viết vài tác phẩm thì có thể coi là có sự nghiệp không?

Anh quan niệm như thế và là một người viết sung sức, tác phẩm của anh khá đa dạng, cả thơ, tiểu thuyết và may mắn thay thể loại nào của anh cũng được đánh giá tốt. Tất nhiên, nếu ta lật lại vấn đề thì những người viết ít như Juan Rulfo, J. Borges, Emily Bronte… thì không thể coi họ không có sự nghiệp được. Đơn giản sự ít ỏi của họ là những kiệt tác.

Một câu hỏi đặt ra, tại sao một số người viết rất ít. Một trường hợp lừng danh như tôi đã dẫn ở trên, Juan Rulfo, tác giả được coi là một trong những ngôi sao sáng nhất của văn học Mỹ La Tinh. Juan Rulfo viết ít vì ông còn bận làm nhiều nghề khác.

Một người cũng viết ít nữa là J. Borges, cũng là một trong những khuôn mặt tiêu biểu của Mỹ La Tinh nhưng chỉ có vài cuốn mỏng manh. Còn nhiều ví dụ nữa ở những nhà văn "nhất bản vạn lợi", họ chỉ viết một đôi cuốn, ví dụ như J.D. Salinger có "Bắt trẻ đồng xanh", Margaret Mitchell có "Cuốn theo chiều gió", Harper Lee có "Giết con chim nhại", "Hãy đi đặt người canh gác" và ở Việt Nam có thể kể đến Bảo Ninh với "Nỗi buồn chiến tranh" là cuốn tiểu thuyết duy nhất của ông đến bây giờ.

Tôi nghĩ, một trong những nguyên nhân đầu tiên của sự viết ít là những nhà văn kể trên tôn thờ sự toàn mĩ. Những người viết ít thường là những người cầu kì, tỉ mỉ về câu chữ. Cứ đọc văn của J. Rulfo, J. Borges, G. Flaubert hay Nguyễn Tuân mà xem. Mỗi từ, mỗi câu là sự trau chuốt rất kĩ càng, cẩn trọng. Và khi nhà văn mất nhiều thời gian cho từng con chữ của mình, làm sao anh ta viết nhanh và nhiều được.

Nhà văn lừng danh Mê- Xi-Co Juan-rulfo được xem là người viết ít tác phẩm nhất.
Nhà văn lừng danh Mê- Xi-Co Juan-rulfo được xem là người viết ít tác phẩm nhất.

Một nguyên nhân khác nữa mà tôi cho rằng rất quan trọng. Đó là tác phẩm đầu tay của nhà văn tạo ra một áp lực quá lớn cho những lần tiếp theo. Sau sự thành công của "Cuốn theo chiều gió", Margaret Mitchell đã cảm thấy khó chịu với sự nổi tiếng và quyết định không viết tiếp. "Giết con chim nhại" cũng chẳng phải là sự thành công đầu tay quá lớn của Harper Lee đó sao, và đến tận gần đây, trước lúc mất, sau mấy chục năm xuất bản tác phẩm đầu tiên, Harper Lee mới đồng ý cho công bố cuốn tiểu thuyết thứ hai của mình: "Hãy đi đặt người canh gác".

Và Bảo Ninh, nhà văn được đánh giá rất cao với "Nỗi buồn chiến tranh", tại sao không viết tiếp tiểu thuyết? "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh được viết ra khi ông còn rất trẻ, chưa đến bốn mươi tuổi và đó là quãng thời gian sung sức của đời người. Tôi không tin rằng Bảo Ninh cạn kiệt sức sáng tạo hoặc không viết được tiếp. Đã vài lần nhà văn úp mở về cuốn tiểu thuyết tiếp theo nhưng giờ vẫn chưa thấy nó đâu. Tôi tin rằng chính áp lực và thành công quá lớn của cuốn tiểu thuyết đầu tay đã ngăn cản ý định cho ra đời một cuốn tiểu thuyết thứ hai. Ông sợ nó không vượt qua được tác phẩm đầu tiên và làm người đọc thất vọng? Dù thế, Bảo Ninh vẫn tiếp tục viết truyện ngắn và các thể loại khác nhưng rõ ràng không phải là tiểu thuyết thì nhà văn sẽ ít bị áp lực hơn.

Có ý kiến cho rằng nếu viết quá nhiều thì những tác phẩm của anh ta sẽ không mấy được chú ý. Ý kiến này có một phần đúng vì nếu như một tác giả có hàng trăm cuốn tiểu thuyết, người đọc sẽ đứng trước một sự lựa chọn khó khăn. Và đôi khi sự quá năng suất, nhất là trong sáng tạo nghệ thuật sẽ khiến người ta nghi ngờ. Ví dụ một nhà văn viết được 12 cuốn tiểu thuyết trong một năm thì sẽ có một dấu hỏi lớn cho chất lượng của tác phẩm. Nghệ thuật mà lại dễ dàng và nhanh chóng thế ư!

Nhưng tất nhiên, viết nhanh và viết nhiều vẫn có lúc sản sinh ra những kiệt tác. Ta từng có "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng được viết rất nhanh đó sao, nhà văn viết dài kì đăng báo thì không thể viết chậm được vì áp lực ra báo. Trường hợp tương tự giống với tiểu thuyết "Anna Karenina" của Lev Tolstoi đăng dài kì trên tạp chí trước khi in thành sách.

Tiểu thuyết "Báu vật của đời" của Mạc Ngôn, một cuốn dày khự mà nhà văn cũng chỉ viết trong vài tháng, chẳng phải là ví dụ điển hình đó sao. Có những người viết nhiều mà tác phẩm vẫn được đánh giá cao, ví dụ như F. Dostoevsky, Stefan Zweig, Mạc Ngôn, H.Murakami… hay ở Việt Nam là Tô Hoài, Ma Văn Kháng… Tất nhiên, trong số trước tác của những nhà văn lực lưỡng này không phải tác phẩm nào của họ cũng toàn bích.

Như vậy một nhà văn nên viết nhiều hay viết ít? Câu trả lời này tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, công việc, tài năng cũng như cảm hứng sáng tạo của mỗi người. Viết nhiều mà hay thì quá tốt nhưng nếu viết ít nhưng xuất sắc thì càng đáng quý. Nhưng theo ý kiến cá nhân của tôi, nghệ thuật là sự tinh tuý, sự chưng cất của tâm hồn, nghệ thuật cốt không cần nhiều mà cần hay và độc đáo. Cho nên nếu như có thể lựa chọn một cách cho riêng mình, tôi muốn chọn sự ít mà tinh tuý.

Nhưng có phải bao giờ mong ước cũng giống như hiện thực, và có phải bao giờ ta cũng chống lại được hoàn cảnh và vượt qua được giới hạn của mình. Viết văn hay bất cứ nghề nào cũng thế thôi, người làm nghề thì nhiều nhưng những bậc thầy và các kiệt tác thì bao giờ cũng ít, rất ít!

Uông Triều

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.