Kỷ niệm 50 năm ngày mất của văn hào Mỹ William Faulkner (1962-2012)

Vĩ đại nhưng không... dễ đọc

Trung tuần tháng 4 vừa qua, trong khuôn khổ cuộc thăm dò ý kiến "Các nhà văn lựa chọn những tác phẩm mà mình yêu thích", 125 nhà văn đương đại nổi tiếng nhất của Anh và Mỹ đã chọn mười tác phẩm vĩ đại nhất thế giới thế kỷ XX, và vinh hạnh thay cho William Faulkner, tiểu thuyết "Âm thanh và cuồng nộ" của ông đã có mặt trong tốp đó. 

William Faulkner (1897-1962) là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ XX. Ông từng đoạt Giải Nobel Văn học năm 1949 và hai giải Pulitzer vào các năm 1955, 1963. Có thể xem toàn bộ tác phẩm của ông như một cuốn "trường thiên tiểu thuyết" mô tả những thăng trầm của nước Mỹ kể từ sau thời kỳ nội chiến đến giữa thế kỷ XX, trong đó, tiểu thuyết "Âm thanh và cuồng nộ" được ghi nhận là một trong những kiệt tác văn chương, mang nhiều yếu tố cách tân. Hiện cuốn tiểu thuyết trứ danh này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng (trong đó có tiếng Việt).

William Faulkner là con cả trong một gia đình danh giá nhưng đang vào hồi sa sút ở New Albany, bang Mississippi . Ông tên thật là William Falkner (không có chữ u). Thuở mới cầm bút, biên tập viên một nhà xuất bản đã nhầm họ của ông thành Faulkner, từ đó ông lấy luôn cái tên William Faulkner làm bút danh.

Thời niên thiếu, William Faulkner học hành khá chật vật. Tuy nhiên, gia đình ông có truyền thống Scottish là đến bữa ăn sáng phải đọc một ít trang trong Kinh Thánh, nếu ai không thuộc thì không được ăn, thành ra việc làm này vô tình đã giúp đầu óc của cậu bé phần nào được "khai sáng". Năm 13 tuổi, William đem lòng yêu một cô bạn gái gần nhà, và vì việc đó mà ông nảy hứng làm hẳn một bài thơ tặng bạn gái. Vì gia cảnh nghèo nên chuyện yêu đương của ông không nên cơm nên cháo gì. Cho đến năm 17 tuổi, William Faulkner phải bỏ học để vào làm việc trong ngân hàng của ông nội. Năm 21 tuổi, Faulkner xung phong vào quân đội nhưng không được nhận vì vóc người quá nhỏ bé.

Trong thời gian xảy ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Faulkner ghi tên vào Học viện Không quân ở Toronto, Canada, rồi gia nhập Không quân Hoàng gia Anh. Ông chưa kịp bay chuyến bay đầu tiên thì cuộc chiến đã kết thúc. Sau cuộc chiến, William Faulkner trở về sống tại quê hương.

Faulkner tiếp tục việc học hành dang dở của mình. Ông xin vào học Ban Ngôn ngữ châu Âu tại Trường Đại học Tổng hợp Oxford (bang Missisippi); tuy nhiên, chỉ một năm sau ông đã lại bỏ học.

Từng có thời gian Faulkner được nhận vào làm nhân viên bán hàng cho một hiệu sách ở New York trước khi ông trở thành nhân viên bưu cục tại trường đại học cũ của mình, nhưng rồi ông bị sa thải vì ham đọc sách trong giờ bán hàng. Faulkner bắt đầu dành nhiều thời gian cho việc viết.

"Âm thanh và cuồng nộ"  là tác phẩm thành công nhất trong đời văn của Faulkner. Cuốn tiểu thuyết được ấn hành lần đầu vào ngày 7 tháng 10 năm 1929 đã mang đến cho ông danh tiếng lẫy lừng, đầu tiên là trong văn giới, sau đó đến với bạn đọc ngoài xã hội.

Trong thời gian này, người con gái mà ông từng theo đuổi từ thuở mới 13 đã ly dị chồng. Faulkner đã nối lại tình xưa. Hai người kết hôn và có với nhau hai mặt con.

Bìa cuốn "Âm thanh và cuồng nộ" của Faulkner xuất bản tại Việt Nam.

Bìa cuốn "Âm thanh và cuồng nộ" của Faulkner xuất bản tại Việt Nam.

Có thể nói, gần như suốt cả thời trung niên, Faulkner luôn phải vật lộn với việc mưu sinh. Tác phẩm "Âm thanh và cuồng nộ" mặc dù được giới phê bình đánh giá cao, được suy tôn là "cuốn sách vĩ đại" song kỳ thực cũng thuộc loại sách không dễ bán. Bởi vậy, để có tiền trang trải cuộc sống và "tái tạo sức sản xuất", Faulkner  quay sang viết cuốn "Thánh đường" và sách được hoàn thành với thời gian kỷ lục: chỉ trong 3 tuần. Sách kể chuyện một cô gái trẻ bị một tên cướp cưỡng hiếp, sau phải vào nhà chứa. Đây mới thực là cuốn sách thuộc dạng best-seller trong đời văn của Faulkner.

Ngoài tiểu thuyết, Faulkner còn viết nhiều vở kịch và truyện ngắn. Tác phẩm của ông khi được dịch in tại các nước châu Âu, nhiều nhà văn ở xứ sở này đã bày tỏ sự hoan nghênh văn tài của ông. Nhà văn Pháp J.P Sartre (Giải Nobel Văn học năm 1964) từng phải thốt lên: "Faulkner là Chúa Trời". Đến năm 1949 thì William Faulkner được trao giải Nobel Văn học.

Trong Diễn từ đọc tại tiệc chiêu đãi Giải thưởng Nobel tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) ngày 10/12/1949, William Faulkner tâm sự rất thực rằng, ông cảm thấy giải thưởng này không được trao cho ông với tư cách một con người mà là trao cho những tác phẩm đã ra đời trong sự lao khổ của tinh thần con người, những tác phẩm được viết ra không phải vì lợi lộc mà vì sự thôi thúc đưa ra những gì trước nay chưa từng có. Chính vì ý nghĩ đó, ông muốn cung hiến một phần số tiền của giải thưởng sao cho thật ý nghĩa. Và ông muốn nhận được lời hoan hô nồng nhiệt của mọi người khi phần thưởng đó được tới đúng địa chỉ, để rồi biết đâu sau này, những người được hỗ trợ sẽ lại có cơ hội được đứng trên bục vinh danh này như ông.

Nói là làm, Faulkner sau đó đã dành một phần tiền từ giải thưởng để lập quỹ khuyến khích các tác giả mới, về sau là giải PEN/Faulkner. Ông cũng dành ra một phần tiền khác để hỗ trợ cho bộ môn khảo cứu về người Mỹ gốc Phi tại Rust College, Mississippi .

Trở lại với tiểu thuyết "Âm thanh và cuồng nộ". Là tiểu thuyết thành công nhất của William Faulkner, nó đã kế thừa và phát huy xuất sắc kỹ thuật viết theo dòng ý thức mà M. Proust và Jame Joyce đã gây dựng từ trước đó. Cuốn tiểu thuyết cũng đã thể hiện ở Faulkner một sự cách tân quyết liệt. Trong cuốn tiểu thuyết này, nhà văn trẻ (bấy giờ mới 32 tuổi) đã phá vỡ kết cấu thông thường qua lối độc thoại nội tâm của nhân vật, đảo lộn thời gian, tăng thời gian đồng hiện, không gian đa tuyến. Đọc nó, bạn đọc phải thoát ra khỏi cách đọc truyền thống (như men theo cốt truyện, men theo xung đột tình huống để nắm bắt ý nghĩa nội dung). Tất cả đã bị xới tung. Thậm chí, bạn đọc nhiều lúc ngập mình trong những câu văn dài lê thê, tràng giang đại hải, những trang văn thậm chí không xuất hiện bóng dáng của một dấu chấm câu.

Với cuốn tiểu thuyết này, William Faulkner đã khiến kĩ thuật viết của ông - như một nhà nghiên cứu đã nhận xét - "không chỉ là một thử nghiệm thuần tuý hình thức mà đã tạo cho nó một giá trị, trở thành một kinh nghiệm thẩm mĩ được rất nhiều nhà văn thế hệ sau học tập".

Tuy vậy, với đông đảo bạn đọc "phổ thông", cho đến hôm nay, Faulkner vẫn là một tác giả… "khó nhằn".

Không chỉ khó đọc, tác phẩm của Faulkner từng một thời bị xem là "khó có thể dựng phim". Mặc dù từng là nhà biên kịch phim của Hollywood nhưng sinh thời, Faulkner chưa lần nào tự chuyển truyện của mình sang kịch bản phim. Tuy nhiên, hiện cách nhìn nhận của thiên hạ về vấn đề này đã có thay đổi. Tháng 12/2011, Công ty Redboard Productions của David Milch - nhà sản xuất phim truyền hình nổi tiếng của Mỹ - đã phải mất nhiều tháng trời mới ký được hợp đồng thỏa thuận mua bán bản quyền 19 tiểu thuyết và 125 truyện ngắn của Faulkner dùng làm "của để dành" cho việc chuyển thể sang kịch bản phim sau này.

Được biết, trong đời mình, chí ít từng có một lần William Faulkner bị lừa trong hợp đồng viết kịch bản phim kéo dài 7 năm với Hãng Warner Bros. Điều này đã được ông thể hiện trên một lá thư gồm hai trang đánh máy được gửi tới người đại diện của mình vào tháng 8/1943 và cách đây mấy năm, lá thư ấy đã được bán đấu giá với số tiền lên tới 18.000 USD. 

Tháng 7/1962, ít ngày sau khi William Faulkner cho xuất bản tiểu thuyết "Quân kẻ cướp" - cuốn sách cuối cùng của đời ông, Faulkner đã bị ngã ngựa trong một chuyến đi chơi. Ba tuần sau ông lên cơn nhồi máu cơ tim và qua đời, hưởng thọ 65 tuổi. 

Lại nhớ, trong Diễn từ đọc tại tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel của William Faulkner có đoạn: "Bi kịch ngày nay của chúng ta là nỗi sợ hãi về thể xác bao trùm, đeo đẳng lâu đến mức giờ đây chúng ta đã quen với việc chịu đựng nó. Không còn vấn đề của tinh thần nữa. Chỉ còn một câu hỏi: Khi nào tôi sẽ bị nổ tung? Vì lẽ đó, người cầm bút trẻ tuổi hôm nay đã lãng quên những vấn đề xung đột nội tại của tâm hồn con người. Chỉ riêng đề tài đó làm nên tác phẩm hay, bởi đó là điều duy nhất xứng đáng để viết" (bản dịch của Tân Đôn). William Faulkner đã hiểu đúng thiên chức của người cầm bút chân chính. Và vì cái sự "đúng" ấy mà mặc dù nhiều năm qua rồi, những vấn đề đặt ra trong nhiều tác phẩm của ông hiện vẫn được bạn đọc quan tâm

Trần Quang Thạch

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.