Vẹn nguyên bông huệ trắng

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý tâm sự: “Tôi viết bài thơ “Trên đường hành quân” đầu năm 1975 và được in số Tết Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm Bính Thìn 1976. Lúc đó tôi đã nghĩ thơ được in như vậy thì con đường văn học của mình sẽ dễ dàng. Vậy mà không phải thế”.

Ông tâm sự tiếp: “Cho mãi tới năm 1995, tức là 20 năm sau, khi tôi viết bài thơ “Bông huệ trắng”, gửi về tòa soạn Văn nghệ Quân đội và được nhà thơ Vương Trọng biên tập. Nhà thơ vốn là cử nhân toán này đã viết thư cho tôi: “Đây là bài thơ rất xúc động viết về đề tài thương binh liệt sĩ thời kỳ sau chiến tranh chống Mỹ”.

1.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.

Bài thơ được in vào số 12 năm 1995 và nó như là “định mệnh” đối với anh bộ đội trẻ Nguyễn Hữu Quý, không phải vì bài thơ được tặng thưởng “Tác phẩm xuất sắc” của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm đó mà là vì cũng từ đấy “con đường văn học” của người lính 559 (bộ đội Trường Sơn) mới thực sự rõ ràng. Nó “chấm dứt” quãng thời gian 20 năm cây bút chiến sĩ Nguyễn Hữu Quý trăn trở đi tìm.

Cũng từ đây giọng thơ chủ đạo của Nguyễn Hữu Quý là giọng thơ chân tình trong chủ đề xuyên suốt, đó là: Những người lính Trường Sơn và những hy sinh mất mát không gì bù đắp nổi. Ở bài thơ “Bông huệ trắng”, ông đã kể lại câu chuyện những người lính hy sinh tay cầm bông hoa huệ trắng đêm đêm trở về. Câu chuyện nghe có vẻ “hoang đường” nhưng thực sự là một câu chuyện “rất đời” bởi chỉ có những người lính trẻ tuổi đã nằm lại trên chiến trường khốc liệt trong lòng luôn mong ngóng được trở về nhà thăm mẹ, thăm quê.

Ông đã viết: “Những người lính trở về têm cho mẹ miếng trầu cay/ Giấc mơ mẹ đỏ tươi từng giọt máu/ Những người lính trở về xòe tay trên bếp khói/ Giấc mơ mẹ mình đơm óng ả hạt mùa chiêm/ Người lính trở về đánh rạ dọn rơm/ Giấc mơ mẹ bay la dòng sữa trắng/ Những người lính trở về cười ngượng nghịu/ Giấc mơ người bật dậy tiếng oa oa”. “Định mệnh” này đã dẫn Nguyễn Hữu Quý đến hẳn với thơ và đến với đề tài Thương binh liệt sĩ, ông đã gửi gắm vào đó cảm xúc của mình với giọng thơ huyền bí.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý tuổi Bính Thân (1956), cái tuổi mà mọi người hay bảo là “ngậm ngùi” ấy dường như cũng có gì đấy như “gắn” vào tâm hồn của ông. Nguyễn Hữu Quý tâm sự: “Tôi sinh ra ở xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nơi chốn đó có con sông Gianh một thời chia cắt đàng ngoài với đàng trong, đổ ra biển Đông”. Nghe ông nói chuyện tôi mới hay rằng tên cổ của con sông là Linh Giang, đến thời phân tranh Trịnh - Nguyễn thì người ta gọi là Ranh, nghĩa là ranh giới. Khi sự chia cắt không còn nữa nên người dân gọi là sông Gianh, cái tên nghe đỡ buồn đau.

Cũng hình như từ chốn sinh thành ấy, nơi suốt những tháng năm đánh Mỹ là tuyến lửa đạn bom và những trận chiến đấu chống trả không quân Mỹ của quân dân Quảng Bình, cũng là nơi đêm ngày từng đoàn quân hăm hở vào trận đã gieo vào lòng cậu bé làng cửa sông những ước vọng được góp một phần nhỏ của mình vào cuộc chiến đấu chung. Và cậu học sinh cấp 3 Bố Trạch tình nguyện đi bộ đội sau khi tốt nghiệp phổ thông. Cậu trở thành “người lính Trường Sơn” một cách tự nhiên. Sau hai tháng huấn luyện Nguyễn Hữu Quý về Trường 975, một cơ sở đào tạo lái xe máy phục vụ việc mở đường “Hồ Chí Minh” huyền thoại. Nguyễn Hữu Quý nhớ lại: “Thành chiến sĩ rồi nhưng rảnh ra là tôi ngồi viết thơ. Hồi học cấp 3 tôi đã rất mê văn học mà”.

Cho đến một ngày của mùa thu năm 1974, thật bất ngờ binh nhất Nguyễn Hữu Quý được đăng chùm thơ 3 bài trên Báo Trường Sơn. Nhớ lại kỷ niệm này ông cười rất vui: “Tờ báo của đoàn 559 ấy có nhà thơ Phạm Tiến Duật làm biên tập viên”. Đó là những bài thơ đầu tiên Nguyễn Hữu Quý viết về Trường Sơn, viết về đồng đội rất hồn nhiên và thật thà: “Có phải em cô gái mở đường/ Vành mũ cứng xanh đủ che hồng khuôn mặt/ Bàn tay em tạo dáng hình đẹp nhất/ Con đường hôm nay con đường mai sau” (Cô gái mở đường).

Có lẽ “bước ngoặt” đưa Nguyễn Hữu Quý đến hẳn với văn học, đến hẳn với thơ, là năm 1996. Năm ấy anh lính Trường Sơn ham làm thơ được Tạp chí Văn nghệ Quân đội mời tham dự Trại viết do Tạp chí mở tại Đồ Sơn. Trại viết có nhiều cây bút trẻ trong quân đội và ngoài quân đội tham dự. Được về dự một trại viết, được gặp gỡ nhiều cây bút đàn anh và cả những cây viết đang phấn đấu như mình nên Nguyễn Hữu Quý như được tiếp thêm động lực.

2.jpg -1
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đang hỏi chuyện một mẹ liệt sĩ.

Ông kể rằng: “Ở trại viết tôi có nhiều đêm tỉnh giấc bất chợt. Nghe tiếng sóng biển ì ầm dội vào bờ đá mà ngỡ như có ai đó đang thầm thì nhắc nhắc. Có một đêm vừa chợp mắt trong trạng thái mơ mơ tôi thấy hiện lên những nấm mồ liệt sĩ ở Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Ý thơ tự nhiên bật ra, tôi bật dậy và hăm hở viết vì chỉ sợ sáng ra thì những hình ảnh ấy sẽ biến mất”.

Và ông đã viết: “Nằm kề nhau những nấm mộ giống nhau/ Mười nghìn bát hương mười nghìn ngôi sao sáng/ Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng/ Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn”. Đó là những xúc cảm bất chợt nhưng chất chứa tấm lòng của một người lính với những đồng đội đã hy sinh. Bài thơ “Khát vọng Trường Sơn” được hình thành và ra đời như một giấc mộng day dứt. Nguyễn Hữu Quý đã gửi bài thơ đó tham dự Cuộc thi thơ do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức ngay trong năm 1996. Kết thúc cuộc thi, tác giả trẻ Nguyễn Hữu Quý được trao giải Nhì (không có giải Nhất) với “Khát vọng Trường Sơn”.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý tâm sự: “Đó cũng như là “định mệnh” vì “Khát vọng Trường Sơn” đã đưa tôi trở thành biên tập viên thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội”. Còn nhớ có lần nhà thơ Nguyễn Hữu Quý cho biết: “Những bài thơ thuở binh nhì của tôi là những bài thơ viết về đường Trường Sơn và về những người lính mở đường Trường Sơn. Và đó cũng là “cái duyên” với tôi, cho tôi gắn bó với “dòng văn học Trường Sơn”.

Rồi ông đọc cho tôi nghe những câu thơ phơi phới từ cái thuở binh nhì đó, như: “Tiếng chim điểm nhịp hành quân/ Cờ lau mở trận trắng ngần gió bay/ Hương hoa rừng khéo nở đầy/ Đọng trên sắc áo dạn dày nắng sương/ Phải chăng qua những nẻo đường/ Ở đâu đất cũng yêu thương tận lòng/ Ông cha vạn thuở anh hùng/ Hóa thành sông núi nhịp cùng ta đi” (Trên đường hành quân).

Nguyễn Hữu Quý không chỉ làm thơ mà ông còn rất tích cực viết văn, viết báo, tích cực hoạt động và công tác hội. Hôm rồi chúng tôi đã có cuộc đi thực tế với nhau ở Bắc Giang. Tôi hỏi luôn ông vì chỉ sợ không hỏi thì sẽ quên mất: “Về Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng có nghĩa là ông thành “người Hà Nội”. Mà đâu có ít ỏi gì, những hơn 20 năm. Vậy mà sao khi được về hưu thì ông lại trở về mảnh đất miền Trung nắng lửa với gió Lào để trở lại làm “dân Quảng Trị”. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý lặng im. Tôi biết sự lặng im của ông không phải là để ông suy nghĩ tìm câu trả lời mà là vì ông không thích nói về mình. Tôi ngồi nhìn ông chờ đợi mãi, mắt tôi mở to như thúc giục ông cứ nói ra đi. Lâu sau nhà thơ Nguyễn Hữu Quý mới nói nhỏ: “Tôi trở về “nơi xuất phát” để tiếp tục cho những xuất phát mới”.

Nói rồi ông vui vẻ kể cho tôi nghe về việc thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Quảng Trị. Cứ tưởng có 3 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam trở lên ở địa phương là đủ “tiêu chuẩn” lập chi hội nhưng không phải đơn giản thế. Vấn đề là lập chi hội tức là phải làm sao để chi hội đó hoạt động được và được địa phương ủng hộ. Nhà thơ, chi hội trưởng Nguyễn Hữu Quý bằng tấm lòng của mình với mảnh đất Quảng Trị, quê hương thứ hai của mình như ông gọi thế, và bằng trách nhiệm của một nhà thơ có uy tín, đã tập hợp được những nhà văn nhà thơ Quảng Trị lại, họ cùng nhau quyết tâm “xây dựng văn học Quảng Trị thời kỳ dựng xây” sao cho xứng đáng với mảnh đất anh hùng. Tấm lòng và trách nhiệm đó đã lay độnglãnh đạo tỉnh, chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Quảng Trị được thành lập và được bố trí trụ sở riêng, có phòng đọc (như một thư viện) mang tên “Khát vọng hòa bình”. 

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã xuất bản 26 đầu sách, trong đó có: 6 tập thơ; 4 trường ca; 1 tập truyện ngắn; 4 tập tùy bút, bút ký, tản văn; 3 tập phê bình; 1 tản văn và 3 tập bình thơ thiếu nhi. Ông đã 3 lần được nhận Giải thưởng của Bộ Quốc phòng với các tập trường ca “Sinh ở cuối dòng sông”; “Vạn lý Trường Sơn”; “Hạ thủy những giấc mơ”... Ông cũng đã được nhận Giải thưởng Viết về đề tài Biên giới - Hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam cho trường ca Hạ thủy những giấc mơ” năm 2020.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.