Từ tiểu thư lá ngọc cành vàng trở thành cộng tác viên của Đội Công an Tình báo Huế

Bà là hậu duệ của tham tri Bộ Công triều đình Minh Mạng Phan Tấn Cẩn - người có công đúc gạch xây thành Huế và chỉ huy đúc 9 khẩu súng thần công, được vua ban danh hiệu Phan Tấn Cẩn Tín Hầu. Theo sự dìu dắt của người cha và noi gương hy sinh anh dũng của người cậu ruột, Phan Thị Thu Quỳ sớm dấn thân theo con đường cách mạng...

Phan Thị Thu Quỳ như cánh hoa lạc trôi giữa dòng sông lịch sử với biết bao biến thiên thời cuộc. Nhưng bằng nghị lực, lòng tự tôn, tự hào của dòng tộc, mà đặc biệt là sự chỉ dạy của song thân về việc giữ nền nếp gia phong, Phan Thị Thu Quỳ đã dũng cảm đối đầu với mọi nghịch cảnh để vươn lên, vừa học tập, tôi rèn bản thân, vừa một mình nuôi dạy con nên người, thủy chung một lòng chờ chồng đến ngày đất nước thống nhất và có nhiều cống hiến cho Tổ quốc, cho quê hương...

Theo lý giải của bà trong tập hồi ký "Áo tím - Đồi sim" thì sở dĩ có cái tên Phan Thị Thu Quỳ là bởi bà sinh vào đêm cuối năm Quý Dậu (1933), bước qua năm Tuất (1934), lại là đứa cháu đầu của hai dòng họ có tiếng ở địa phương nên rất được yêu quý. Chỉ vì tranh cãi tuổi tác mà đến 4 tháng sau khi chào đời, hai bên nội ngoại mới thống nhất đặt tên cho cô cháu gái là Phan Thị Thu Quỳ, tức Hoa Quỳ - hoa Hướng Dương, loại hoa hiếm về mùa thu.

Những biến cố thời cuộc như chiếc bóng thoảng qua cửa sổ của căn nhà tuổi thơ ấm êm. Thu Quỳ sống đủ đầy trong vòng tay bao bọc của dòng tộc nội, ngoại, trong sự giáo dục nghiêm khắc mà đầy tình yêu thương của song thân. Sóng gió chỉ bắt đầu khi bà 12 tuổi, cha đi kháng chiến, kinh tế khó khăn. Từ cô bé chỉ biết đi học, có kẻ hầu người hạ, cô tiểu thư nhỏ Thu Quỳ bắt đầu biết phụ mẹ nấu kẹo, đổ bánh tráng bán sỉ cho các quán, bán buôn lặt vặt kiếm sống.

Ngày nhận thư cha cũng là ngày bà bắt đầu dấn thân vào con đường người cha đã chọn. 15 tuổi, bà bắt đầu giấu mẹ làm giao liên cho lực lượng Công an Huế với tên gọi Kim Phượng. Công tác - theo cách nói đơn giản của cô bé ngày ấy là những chuyến "đi hoài để giúp các anh", có khi mang một túi xách nặng, có lúc là bông chuối lên chùa, có lúc là cái thư, có khi là truyền tải một câu bà không hiểu có nghĩa gì cả như "Thím Bưởi đã về rồi", hay "ăn nhiều thì sình bụng"... Tiếng tăm của dòng họ cộng với vỏ bọc con gái của một ông Phán trong Tòa Khâm tại Đà Lạt, vốn liếng tiếng Pháp từ ngày còn cắp sách đến trường và sự ứng biến lanh lẹ trước những tình huống cấp bách, nguy hiểm đã giúp Thu Quỳ trót lọt qua mắt địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Bà Phan Thị Thu Quỳ trong thời gian công tác tại Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2.

17 tuổi, Phan Thị Thu Quỳ vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng với lời khai ngắn gọn: "phụ trách địch vận xã Hương Vĩnh và cộng tác viên cho đội Công an tình báo Huế". Nhớ lại ngày được kết nạp Đảng, bà rất xúc động bởi đó là ngày thiêng liêng nhất trong đời: "Tôi rạo rực nhìn lên ảnh Bác Hồ và hai lá cờ đỏ trang nghiêm với một dòng chữ bên dưới: Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm. Tôi bồn chồn và hân hoan tuyên thệ sau khi thực hiện thủ tục chào cờ, nghe đọc quyết định của Huyện ủy Hương Trà kết nạp Đảng. Các anh dặn dò nhiều, tôi nghe như nuốt từng lời, rất xúc động vì từ nay tôi đã đứng trong hàng ngũ cùng với ba tôi".

Đúng thời điểm Thu Quỳ vắng nhà đi công tác, địch phát hiện Kim Phượng với Thu Quỳ thực ra chỉ là một. Chúng ra sức tra hỏi người mẹ nhưng bà một mực bảo rằng chồng bà, ông Phán theo vợ bé, bỏ bê mấy mẹ con ở quê, Thu Quỳ đã vào Đà Lạt xin tiền cha về nuôi em. Mặt khác, bà viết thư dặn con gái đừng về. Với cô bé Thu Quỳ ngày ấy thì "Lá thư của mạ đã giúp tôi cắt đứt cái mơ tưởng được về nhà, yên tâm làm việc một cách tập trung". Nhưng, nỗi nhớ nhà thì chưa bao giờ nguôi ngoai. "Có những buổi chiều, khi hoàng hôn xuống, bầy chim ríu rít về tổ ấm, rồi đến lúc trăng sao lác đác rơi xuống ao hồ bên cạnh vườn nhà, tôi buồn tê tái. Ngồi bên chõng tre trước sân rộng nhìn về phía Đông quê tôi chỉ cách khoảng một cây số chim bay là nơi mạ, các em tôi, nội ngoại họ hàng làng xóm... Tôi nhớ tôi thương, muốn bay về ngay tức khắc. Tôi nhớ mạ da diết".

Đón cái Tết đầu tiên xa gia đình, bắt đầu quen với nếp sống tập thể ít lâu thì Phan Thị Thu Quỳ gặp lại người cha thân yêu vừa từ chiến khu Dương Hòa ra sau 4 năm xa cách. Thu Quỳ vui mừng nhưng cũng đầy xót xa bởi "ba gầy, đen sạm. Mới 42 tuổi mà ba già như 60. Trong bộ áo quần vải nâu, đội mũ lá úa, vai mang sắc cốt, đi dép ba quai, ba khác trước quá. Trước đây ba làm việc ở Tòa sứ, đi với Tây tỉnh trưởng, ba cũng không thua gì, mập mạp, trắng trẻo, còn bây giờ ba là một cán bộ dạn dày sương gió. Chỉ có một điều không khác là ánh mắt và lời nói của ba lúc nào cũng thương con vô bờ bến".

Sau cuộc hội ngộ bất ngờ, Thu Quỳ hăm hở theo cha vào chiến khu Dương Hòa với niềm tin mãnh liệt: "Chỉ một thời gian ngắn Bộ đội Cụ Hồ sẽ quét sạch kẻ thù xâm lược". Cô không hề biết rằng, phải đến 25 năm sau, niềm tin đó mới trở thành sự thật và cô mới có cơ hội trở về với Huế thân yêu, đoàn tụ với gia đình nhưng dưới một vai trò khác.

Cũng trong năm 1950, Thu Quỳ được ba gửi ra miền Bắc theo đoàn cán bộ Công an. Thu Quỳ nhớ lại, ngày lên đường, nghe "ba nói chi tôi cũng dạ. Đầu óc tôi đang choáng váng, chỉ thấy đang bị mất mát thứ gì quá lớn lao. Vẻ gầy yếu của ba đập vào tim tôi, nhắc nhở tôi lo lắng, có cái gì đó không may cho những ngày sắp tới...". Nỗi lo lắng mơ hồ ấy sau đã trở thành sự thật. Sau chuỗi ngày cùng đoàn công tác vượt đường với không ít lần tưởng đã cận kề cái chết, Thu Quỳ cũng đến được Trường Huỳnh Thúc Kháng tại Bạch Ngọc, Đô Lương, Nghệ An. Cuộc sống thiếu thốn trăm bề, học chưa được bao lâu, cô lại nhận tin cha hy sinh.

Quá đau đớn, cô ốm rụng hết tóc. Sau 2 tháng nghỉ, Thu Quỳ trở lại trường, vừa học vừa làm gia sư kiếm sống. Năm 1953, Thu Quỳ vượt qua cả ngàn thí sinh, trở thành một trong số 30 sinh viên trường dược khóa II tại Thanh Hóa. Ngày lên đường nhập học, hành trang Thu Quỳ mang theo là xấp vải may cái áo ngắn, ít tiền do chủ nhà nơi cô từng làm gia sư bán lúa, đậu giúp đỡ. Sau kỳ nghỉ hè đầu tiên, Thu Quỳ lại tiếp tục di chuyển lên học tại Việt Bắc. Thêm một lần nữa, bước chân cựu tiểu thư xứ Huế vượt qua đèo dốc, sông suối, rừng rậm tìm vào tận A.T.K học tập, công tác, làm quen với những đêm dài ôm súng gác trường.

Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Phan Thị Thu Quỳ theo phân công của Bộ Y tế về tiếp quản Thủ đô cùng các đồng nghiệp rồi nhận quyết định về Nghệ An với tâm thế "nhận nhiệm vụ đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần". Người nữ dược sĩ trẻ tự tổng kết lại chặng đường đã qua và tự nhận: "Tôi bừng tỉnh nhận ra con đường tôi đi tới không phải là con đường phiền muộn. Tôi đã dẹp được nỗi sầu riêng tư, coi đó là số mệnh cần phải đi xa để tiến bộ".

Thực tế, sự chấp nhận số mệnh, tiếp tục con đường đi xa để tiến bộ đã giúp Phan Thị Thu Quỳ đối mặt và xuất sắc vượt qua hàng loạt trở ngại của cuộc đời sau đó. Đó là những tháng ngày tuổi trẻ vất vả nhưng sôi nổi mà tinh nghịch trong ngành Y tại Nghệ An, là những tháng năm một thân một mình giữa Hà Nội, vừa chèo chống nuôi con, vừa lo đảm bảo công tác, trau dồi nghiệp vụ, một lòng thủy chung chờ chồng - một bác sĩ đã tình nguyện vào phục vụ chiến trường miền Nam nhưng gần như bặt tin tức. Đó còn là những ngày hăm hở xen lẫn lo âu theo đoàn tiếp tế thuốc men vào Nam tìm chồng những ngày đất nước vừa giải phóng và cả những tháng ngày sát cánh cùng đồng nghiệp ngành Y tổ chức nghiên cứu, sản xuất, đưa Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương từng bước vượt khó phát triển kể từ thời bao cấp đến khi đất nước mở cửa, trong khi vẫn giữ gìn mái ấm hạnh phúc, nuôi dạy con cái thành tài, tiếp tục kế tục sự nghiệp của cha ông, cống hiến cho đất nước. Tất cả những điều đó được bà gói ghém, gửi trọn trong "Áo tím - Đồi sim", cuốn tự truyện bà viết từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cuốn sách khá đầy đặn, với 370 trang in, được Nhà xuất bản Trẻ cho ấn hành cách đây ít năm

Ngọc Nguyễn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.