Triều đại nhà Trần: Thuận hoà vì nghĩa lớn

Xét theo sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (ĐVSKTT), nhà Trần đã phải chịu không ít long đong trước khi được trở thành triều đại tiếp nối nhà Lý trị vì đất Việt.  Và khi đã là hoàng tộc rồi, trong nội bộ nhà Trần cũng liên tiếp xuất hiện những mâu thuẫn lắm khi cực kỳ gay gắt.

Thế nhưng, chính nhờ biết cách vượt lên trên hiềm khích và mâu thuẫn để "kết đoàn lại chúng ta là sức mạnh" mà nhà Trần đã trở thành một trong những triều đại lập được nhiều võ công hiển hách nhất trong lịch sử nước ta.

Không cố chấp

Ngay trong đời đầu tiên của nhà Trần đã xảy ra một chuyện tày đình khiến vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và người anh ruột Trần Liễu bỗng dưng phải ở vào thế rất khó nhìn mặt nhau. Số là, Trần Liễu vốn lấy vợ là công chúa Thuận Thiên (tên húy là Oanh), con gái cả của vua Lý Huệ Tông với hoàng hậu Trần Thị Dung (bà Trần Thị Dung cũng là cô ruột của Trần Liễu).

Hai người đã có một người con trai tên là Trần Doãn, không rõ năm sinh (Trần Liễu còn là cha của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, sinh năm 1230; Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1232; Trần Thị Thiều, tức Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, vợ vua Trần Thánh Tông, mẹ đẻ vua Trần Nhân Tông). Tới năm 1237, Thuận Thiên lại có mang một người con trai. Trong khi đó, hoàng hậu Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng),  vợ vua Trần Thái Tông, sau khi sinh được một đứa con là hoàng tử Trần Trịnh (chết yểu), gần 10 năm qua mà mãi vẫn không thể hoài thai lại được.

Để bảo vệ quyền lợi của dòng họ, Thái sư Trần Thủ Độ cùng công chúa Thiên Cực (vốn là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông nhưng năm 1226 đã bị giáng xuống gả cho Trần Thủ Độ) đã bàn tính với nhau buộc Trần Liễu phải để cho Thuận Thiên (lúc này đang có mang ba tháng) trở thành hoàng hậu, thay cho Chiêu Thánh bị giáng xuống làm công chúa.

Tức giận vì bị mất vợ cho chính người em ruột, Trần Liễu đã dấy binh ra sông Cái làm loạn. Bản thân nhà vua cũng cảm thấy rất áy náy trong lòng nhưng đã ngồi ngôi cao thì phải coi việc nước lớn hơn việc nhà (!). Dẫu vậy, vua Trần Thái Tông vẫn rất xót anh trai.

Tượng đài Trần Hưng Đạo ở quảng trường 3-2, TP Nam Định.
Tượng đài Trần Hưng Đạo ở quảng trường 3-2, TP Nam Định.

Chính vì thế nên hai tuần sau đó, khi tự lượng sức mình đem trứng chọi với đá, Trần Liễu  đã bí mật đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá tìm tới chỗ nhà vua xin chín bỏ làm mười, vua Trần Thái Tông đã rưng rưng nước mắt nhìn anh. Thậm chí ngay cả khi ông chú họ nghiêm khắc tới tàn nhẫn Trần Thủ Độ (cha Trần Thủ Độ là ông Trần Hoằng Nghi, là em ruột ông Trần Lý, mà ông Trần Lý  lại là cha ông Trần Thừa, và ông Trần Thừa là cha của Trần Liễu và Trần Cảnh) khi hay tin hầm hầm xông tới rút gươm đòi chém Trần Liễu, vua Trần Thái Tông đã lấy thân mình ra che cho anh và tìm cách hòa giải…

Rồi nhà vua còn cho anh mình lấy các vùng Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) làm đất thang mộc. Trần Liễu về sau có tên hiệu Yên Sinh vương là nhờ thế.

Tất nhiên, Trần Liễu không bao giờ nguôi ngoai nỗi đau bị mất vợ cho chính người em trai, nhưng ít ra, ông đã không làm điều gì náo động thêm để ảnh hưởng xấu tới việc triều chính. Về sau, ông chỉ âm thầm thổ lộ tâm sự của mình với người con trai mà ông cho là tài ba lỗi lạc nhất của mình là Trần Quốc Tuấn.

Biết phận, không ham ngôi báu

Trở thành vợ của người em ruột chồng cũ chỉ dăm sáu tháng, cuối năm 1237, Hoàng hậu Thuận Thiên đã sinh ra Trần Quốc Khang và người này được coi như là con trưởng của Vua Trần Thái Tông. Tháng 9/1240, Hoàng hậu Thuận Thiên lại sinh hạ một người con trai khác với chính nhà vua là Trần Hoảng và tiếp theo, tháng 10-1281, sinh hạ Trần Quang Khải.

Tiếng là con trưởng nhưng Trần Quốc Khang không được trở thành thái tử. Ngôi vị này được dành cho người con trai thực sự của hoàng hậu Thuận Thiên và vua Trần Thái Tông là Trần Hoảng. Năm 1258, vua Trần Thái Tông đã nhường ngôi cho thái tử Trần Hoảng, lúc này đã 18 tuổi, tức vua Trần Thánh Tông, còn mình lên làm Thái Thượng hoàng.

Sách sử chép rằng, Trần Quốc Khang trong hoàn cảnh đó đã rất hiểu đời và thời thế nên luôn cảm thấy thoải mái trong mọi mối quan hệ. Nếp sống trong gia tộc nhà Trần thời đó khá hồn nhiên và gần gụi. Quốc Khang thường cùng vua em đùa chơi ngay cả trước mặt Thượng hoàng. ĐVSKTT kể, một lần, mùa đông tháng 10-1268, khi Thượng hoàng đang mặc áo bông trắng, Quốc Khang múa kiểu người Hồ rất duyên nên được cha cởi áo đó ban cho. Vua em thấy anh được áo cũng nhảy ra múa kiểu người Hồ để vòi Thượng hoàng "chia cho đều, kêu cho sòng". Thấy vậy, Quốc Khang bèn nói:

- Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi, nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?!

Thượng hoàng nghe vậy cả cười, khen Quốc Khang coi ngôi vua cũng chỉ ngang bằng tấm áo xoàng mà thôi…

Hiểu rõ năng lực và hoàn cảnh riêng của mình, nên Trần Quốc Khang không bao giờ khác ý với vua Trần Thánh Tông, mặc dù người cha thực của ông (Trần Liễu) cho tới phút lâm chung vẫn đau đáu một niềm phục hận. Vua Trần Thánh Tông cũng đánh giá rất cao thiện ý của ông anh thực chất chỉ cùng mẹ nhưng khác cha này và đã đối xử với Trần Quốc Khang một cách hậu hĩnh, dù biết rằng ông không phải là người có tài kinh bang gì nhiều lắm. Tháng 9-1269, Trần Quốc Khang được phong làm Vọng Giang Phiêu kị đô thượng tướng quân. Tháng 3-1270, ông được cử đi giữ việc cai trị Diễn Châu. Nghe nói, tại đó ông đã cưới một bà vợ lẽ rất đẹp… Ông mất năm 1300…

Anh em đồng chịu

Cũng phải nói rằng, dưới thời vua Trần Thánh Tông, các quan hệ trong nội tộc nhà Trần càng được chú trọng trên nguyên tắc tình anh em là trên hết. ĐVSKTT đã chép, năm 1268, nhà vua đã nói với các tôn thất: "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người được tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu, để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc".

Và vua Trần Thánh Tông đã xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong triều để cùng nhau ăn uống một cách thân thiết với vua. Nếu hôm nay ăn xong mà trời tối rồi thì vua tôi "cùng xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau" (ĐVSKTT).

Chính cách cư xử như thế đã giúp cho hoàng thân quốc thích nhà Trần "không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không ai phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng" (ĐVSKTT), dù có chuyện gì đi chăng nữa vẫn duy trì được các mối quan hệ anh em, cha con, họ mạc hòa thuận, chân tình. Mối thâm tình đó rất hữu ích khi xã tắc lâm nguy "ba phen chồn ngựa đá".

Xã tắc trên hết

Tháng 4/1251, Yên Sinh vương Trần Liễu qua đời ở tuổi 41. Khi hấp hối, ông đã dặn người con trai Trần Quốc Tuấn mà ông rất kỳ vọng và đã dày công tìm người hiền tài về dạy dỗ: "Con không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được!".

Nghe thì nghe vậy, nhưng trong sâu thẳm tâm can, Trần Quốc Tuấn không cho rằng đấy là việc làm đúng đắn. Đối với thiên tài lỗi lạc này, sự ổn định và phát triển của xã tắc phải là trên hết, mọi tính toán cá nhân không bao giờ được làm mờ đi cái đích chí tôn cao cả này.

Chính vì thế nên ông rất lấy làm tâm đắc với lời của hai gia nô thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu, khi ông nói lại với họ lời cha trăng trối và hỏi xem có nên thừa lúc mình đang quyền cao chức trọng mà thu lấy ngôi vua vào tay mình hay không. Hai người này tâu: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu!".

Ông cũng đã khen ngợi người con cả Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến đã nói được câu nghĩa khí: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ" khi ông ướm lời giả vờ hỏi: "Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?"…

Ông đã nổi giận khi nghe người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng thốt ra lời rằng: "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ" khi ông cũng đặt ra câu hỏi tương tự. Thậm chí ông còn mắng: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định xuống tay với Quốc Tảng. Chỉ khi Hưng Vũ vương chạy tới khóc xin chịu tội thay em, Trần Quốc Tuấn mới tha nhưng vẫn dặn: "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng!".

Cũng chính vì biết tấm lòng trung trinh với nước, với hoàng gia của Hưng Đạo vương nên vua Trần Nhân Tông đã rất tin cậy ở Trần Quốc Tuấn. Tháng 10-1283, trong cuộc tập trận thủy bộ lớn để chuẩn bị kháng chiến chống quân Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông  đã phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế  thống lĩnh quân đội toàn quốc, quyền hành nghiêng thiên hạ.

Và càng ở vị trí cao, Trần Quốc Tuấn càng tỉnh táo trong hành xử để không làm nảy sinh những hiềm nghi không đáng có trong hoàng tộc. Năm 1285, khi cuộc chiến đấu với kẻ thù hùng mạnh và đông đảo tới từ phương Bắc đang trong giai đoạn khó khăn nhất, gặp lúc ta yếu thế, Trần Quốc Tuấn phải xa giá nhà vua phiêu dạt trên sông, tới dòng Ba Chẽ, Quảng Ninh hiện nay.

Lúc ấy chạy theo vua trong cảnh binh đao, tay ông có chống chiếc gậy có bịt sắt. Một số người thân cận ở bên vua thấy vậy có vẻ nghi hoặc và gườm gườm nhìn vào ông. Thế là Trần Quốc Tuấn đã rút ngay cái đầu sắt nhọn ném đi, chỉ còn lại cây gậy gỗ không để chống mà đi… Sách ĐVSKTT có ghi rằng, những chuyện đại loại như thế  còn nhiều.

Sử gia Ngô Sỹ Liên, người sống ở thế kỷ XV, về sau bình: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử như hào cửu tứ của quẻ Tùy thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa…".

La Văn Tiến

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?