Người Đức u hoài
Erich Maria Remarque (tên khai sinh là Eric Paul Remark) là người con thứ hai trong gia đình người thợ đóng sách ở
Lên sáu tuổi, Remarque đã vào học ở trường nhà thờ. Ngay từ nhỏ, nhà văn tương lai đã say mê đọc tác phẩm của những trưởng lão làng văn như Stefan Zweig, Thomas Mann, Fiodor Dostoievski, Marcel Proust và Wolfgang Goethe… Năm 1915, Remarque vào học ở Chủng viện sư phạm Công giáo. Năm 1916, nhà văn tương lai bị gọi đi lính và tới trung tuần tháng 6/1917, đã phải tới mặt trận phía tây. Vừa chân ướt chân ráo tới nơi hòn tên mũi đạn, ông đã bị thương ở chân trái, tay phải, cổ và từ đó cho tới khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã phải ở lì trong một quân y viện để chạy chữa.
Từ năm 1919, ông đi dạy học rồi vì kế sinh nhai phải lao mình vào khá nhiều nghề khác nhau, có lúc đã từng làm người bán bia mộ và khi lại đánh đàn organ trong nhà nguyện ở bệnh viện tâm thần…
Năm 1921, Remarque bắt đầu làm việc như một biên tập viên trong các tạp chí Echo Continental và cũng từ đấy, đã chọn bút danh cho mình là Erich Maria Remarque (ông thay tên đệm từ Paul sang Maria để tưởng nhớ người mẹ mà ông rất yêu quý, đã qua đời từ năm 1918). Tiểu thuyết đầu tay của ông được xuất bản năm 1920 có tên là Khách sạn Giấc mơ…
Tháng 10/1925, Remarque kết hôn với một cựu vũ công tên là Ilse Jutta Zambona. Người đàn bà này đã mắc chứng lao nhiều năm liền. Đây cũng là người đàn bà đã trở thành nguyên mẫu cho một số tác phẩm của Remarque, trong đó có Pat trong tiểu thuyết Ba người bạn…
Tuy nhiên, cuộc hôn nhân có nhiều phần say đắm này cũng chỉ kéo dài được hơn 4 năm. Mặc dầu vậy, tới năm 1938, Remarque lại đăng ký tái hôn với Jutta để giúp chị có được lý do thoát khỏi Đức sang Thụy Sĩ, nơi ông đang tá túc khi đó để tiếp theo, cùng đi sang Mỹ lánh họa phát xít. Lần li dị chính thức thứ hai của họ xảy ra vào năm 1957… Từ thời điểm đó cho tới cuối đời, Remarque đã luôn luôn trợ cấp cho vợ cũ và trước khi nhắm mắt xuôi tay, đã viết di chúc tặng bà 50 ngàn USD…
Từ tháng 11/1927 đến tháng 2/1928, Remarque đã cho in tiểu thuyết Ga trên đường chân trời trên tạp chí Sport Bild, nơi ông làm việc khi đó. Năm 1929, ông xuất bản tác phẩm lừng danh nhất của mình Phía Tây không có gì lạ, trong đó mô tả sự tàn bạo của chiến tranh từ góc nhìn của một người lính đang độ tuổi 20.
Tiếp sau tiểu thuyết này, Remarque đã hoàn thành một số tác phẩm mang tinh thần chống chiến tranh, với ngôn ngữ thể hiện giản dị, giàu cảm xúc, mô tả hiện thực chiến tranh và thời kỳ hậu chiến rất chân thực. Năm 1931, tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ đã giúp cho Remarque được lọt vào danh sách những nhà văn có cơ hội nhận giải Nobel. Tuy nhiên, tới phút cuối, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã không lựa chọn ông…
Trước đó một năm, bộ phim dựa trên cốt truyện của Phía Tây không có gì lạ đã được hoàn thành. Lợi nhuận thu được từ bộ phim và cuốn sách đã giúp Remarque trở nên giàu có và ông đã sử dụng một phần tiền không nhỏ để mua tranh của Cezanne, Van Gogh, Gauguin và Renoir…
Thế nhưng, cánh hữu ở Đức lúc đó coi Phía Tây không có gì lạ như một mưu toan bôi nhọ người quân nhân Đức. Ngày 12/12/1930 tại Đức đã cấm chiếu bộ phim mà người Mỹ dựng theo cuốn sách của Remarque. Chính vì tiểu thuyết đầu tay này mà Remarque bị bọn quốc xã vô cùng căm thù. Tháng 5/1953, sách của ông cùng tác phẩm của những nhà văn Đức tiến bộ khác đã bị bọn phát xít đốt cháy.
Những sinh viên theo tư tưởng quốc xã khi đốt sách của Remarque đã hô những câu khẩu hiệu như cháo chảy: “Đả đảo những bồi bút phản bội lại các anh hùng của thế chiến thứ nhất! Muôn năm tinh thần giáo dục thế hệ trẻ trong không khí lịch sử đích thực. Hóa vàng các tác phẩm của Remarque!”. Trong tình huống đó, Remarque đã rời khỏi Đức sang tị nạn ở Thụy Sĩ… Rồi tới năm 1939, ông sang Mỹ. Tới năm 1947, ông đã có được quốc tịch Mỹ…
Trọn kiếp cô đơn
Ở Mỹ, Remarque đã rất cô đơn, mặc dầu bên ông luôn có các mỹ nhân sắc nước hương trời. Không có tình yêu thực sự thì những người đẹp chỉ làm lòng ta thêm trống rỗng. Năm 1940, trong một dạ hội thượng lưu ở
Chơi cho họ nghe lúc ấy trên cây đàn piano của Chopin là Rubenshtein! Bốn giờ sáng, Remarque đã làm được một việc mà hàng triệu người đàn ông trên thế giới mơ ước là chở Dietrich về nhà nàng. Và nàng đã trút bỏ y phục... Thế nhưng, như ông viết trong nhật ký, “tôi đã quá mệt nên không muốn gì cả, không muốn cả làm lành hay cãi nhau, tôi chỉ hôn tay nàng rồi bỏ đi, cảm thấy sau lưng cả một luồng hơi lạnh”.
Sau Dietrich, Remarque còn say mê vô số các diễn viên ở
Châu Âu lúc đó đang rực lửa chiến tranh, quân phát xít tràn tới cửa ngõ Moskva và điều này khiến Remarque cảm thấy bi quan. “Dù có cố gắng đến mấy để rũ bỏ mọi thứ này khỏi mình, thì bóng tối nơi chân trời vẫn dày thêm và buộc đời thường phải trôi nhanh hơn: cần phải lấy mọi cái từ nó, một khi bóng tối chưa nuốt chửng ta”- ông viết trong nhật ký.
Mỗi tối ông ghé vào năm, sáu quán bar với “khát vọng” nhấn chìm nỗi sợ hãi trong rượu... Remarque không ưa các tối tiếp tân rỗng tuếch ở
Cuộc sống của Remarque là khoảng vô thời gian xa hoa giữa các loại ghế. Đó là cuộc chơi làm ông rớm máu trong y phục của một nhân vật thượng lưu, một tình nhân đào hoa, một nhà văn thành đạt được
Và chỉ những trang nhật ký vừa được công bố mới cho thấy rõ mặt sau của sự việc: những đau khổ tình ái mà Dietrich đã khiến ông lâm vào, các cuộc nhậu tối ngày và sự đau đớn vật vã khi viết sách. Để có cuốn Khải hoàn môn (1946), ông đã phải mất tới 7 năm. May mà cũng chính nó lại mang tới cho ông dư vị thành công như thuở ban đầu, giải phóng cho ông khỏi xiềng xích của những mặc cảm mà ông mắc phải khi sống trong vinh quang nhung lụa của thành công đầu tiên.
Năm 1951, ở Hollywood, Remarque đã gặp nữ diễn viên Paulette Goddaed, vợ cũ của vua hài Charlie Chaplin và người đàn bà này đã giúp ông hồi tâm sau sự tan vỡ với Dietrich, thoát khỏi chứng trầm cảm và như chính ông sau này tâm sự, “đã tác động tích cực tới ông”. Chính vì hồi phục được sức khỏe tinh thần nên Remarque đã có thể hoàn thành cuốn tiểu thuyết Tia lửa cuộc sống và tiếp tục sáng tác cho tới cuối đời.
Và sau khi li dị lần thứ hai với Jutta, nhà văn đã kết hôn với Paulette năm 1958. Rồi Remarque đã trở về Thụy Sĩ để sống đoạn đời còn lại. Trong suốt thời gian này, bên ông vẫn là Paulette… Remarque mất ở tuổi 72. Hai mươi năm sau, Paulette cũng qua đời và đã được an táng cạnh chồng ở
Cũng phải nói rằng, ở nước Đức, ngay cả khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Remarque vẫn không được chuộng, vì ở nơi này người ta muốn khâm liệm hoàn toàn quá khứ. Remarque bị buộc tội tự phá tổ nhà mình. Có lẽ vì thế nên năm 1956, ông đã đồng ý sửa đổi Thời gian sống, thời gian chết theo yêu cầu của nhà xuất bản. Ông quy thuận một cách lặng lẽ...
Cuốn tiểu thuyết đã bị đánh mất khá nhiều độ gay cấn về chính trị. Nhân vật chính diện chủ đạo vốn là một đảng viên Cộng sản đã bị chuyển thành người dân chủ xã hội. Các cảnh miêu tả tội ác của bọn quốc xã ở Liên Xô cũ bị giảm tông. Chuyện một tên lính Đức phát xít gọi mình và đồng bọn là những kẻ sát nhân đã bị tước bỏ hoàn toàn ra khỏi tác phẩm. Nhà xuất bản cho rằng, người dân Đức trong thập niên 50 thế kỷ XX chắc chắn không thích những chuyện đó...