Tôi thuộc về rừng

Những ngày gần đây, Tây Nguyên quê tôi được nhắc đến nhiều lần, ở nhiều nơi. Tây Nguyên hoang hoải, lặng lẽ nhưng khiến người ta và lo nghĩ nhiều khi cảm thấy thuộc về, và tôi cứ nghĩ, nghĩ mãi về Tây Nguyên như duyên, như nợ.

Cách đây một tuần, chị bạn tôi, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư hẹn tôi một chuyến ở Gia Lai. Chị muốn đến rừng, đến một làng sát rừng để có thể hiểu thêm một chút về miền đầy nắng và gió. Tôi chọn làng Đê Kơ Giêng ở xã Ayun, huyện Mang Yang, Gia Lai để chào đón chị, một nhà văn xuất sắc của vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tôi chạy vào làng, gần nhà mẹ tôi ở phía rừng Quốc gia Kông Kah King, nơi có ngôi nhà rông (theo tôi) là đẹp nhất Tây Nguyên mà tôi từng thấy. Có mái tranh, có vườn gỗ quý của làng nằm rải rác trong vườn rừng. Làng nằm cheo leo bên đỉnh núi nơi có những sợi khói bay lờ lờ hòa lẫn với mây lập là trên đỉnh núi, từ sợi khói ấy dưới tán của những cây cổ thụ phía rừng già tôi đã viết nên truyện ngắn “Hơi ấm” cách đây không lâu.

Tôi thuộc về rừng -0
Mảnh đất Tây Nguyên thấm đẫm chất sử thi.

Là một người sống ở Tây Nguyên rồi may mắn được vùng đất ươm cho những ý tưởng, con chữ và cho tôi xúc cảm để tôi có thể hành nghề tay trái viết lách. Bao lần di trú, rời đi nhưng tôi vẫn dùng dằng mối lương duyên trên nghiệp đường chữ nghĩa để khi cơn mưa đầu mùa đì đùng rào rào đổ về, những đám bụi đỏ thốc phía đàn bò đi ngược vườn cao su trở về, mùa gió chuyển để dã quỳ vàng ươm và cỏ đuôi chồn trổ bông tím rịm. Rồi đó, những trái đồi bát úp tròn xoe lấm tấm màu xanh khi mùa mưa kịp đến. Tôi thường ví mùa mưa của Tây Nguyên như một người đàn bà, mỡ màng, tươi tốt. Cây đang nắng trơ khấc, gặp mưa là mầm trái ủ đâu trong đất bời bời tốt lên. Chất dinh dưỡng ấp ủ đã khiến Tây Nguyên thành vựa cây trái sum suê, mùa tiếp mùa, và rồi dòng người từ nhiều nơi đổ về sống bên cạnh những người Ê Đê, Ba Na, Gia Rai thuần hậu.

Người làng hiền lắm. Họ sống thành làng. Tôi đã sống với họ suốt hơn ba mươi năm, bạn Chrơn, bạn Khiu của tôi ở làng Kon Brung giờ đã lên chức ông ngoại. Hồi đó, lớp 9 trong cả xã chỉ có 22 đứa thi tốt nghiệp, ở đó có các bạn người Ba Na của tôi. “Học mãi thì cái chữ cũng phải biết chứ, đi học hoài rồi cô giáo cũng thương mình mà cho mình lên lớp, không học thì nay đâu có làm bác sĩ được”. Đó là câu nói của Ní, hiện tại là bác sĩ của làng làm ở Trạm y tế xã hay nói với tôi.

Những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX, người Kinh tốt nghiệp cấp 2 ở một xã ven bìa rừng như xã tôi còn hiếm, huống hồ gì người Ba Na. Cũng có bạn nói, mình học hết lớp 9, ở nhà, đợi xã đến mời đi làm cán bộ miết mà mình không thấy nên mình bắt vợ… nhưng cũng có người chọn đường học tiếp cấp ba như Ní bạn tôi. Ní học tiếp lên trường nội trú tỉnh, về làm gần nhà, chăm sóc, khám chữa bệnh cho bà con.

Gặp tôi, Ní vẫn cười bẽn lẽn, “mày mà làm cô giáo thì chắc giỏi lắm ha, ngày xưa mày chỉ bài cho tao, tao rất dễ hiểu, nếu tao có con, tao lại gửi cho mày. Chỉ có học thôi mày à, đất rẫy rồi cũng hẹp đi, mà người thì đông ra, không có cái chữ thì hướng dẫn uống thuốc cũng không đọc được. Như vậy thì khổ lắm, đi đâu mà không biết chữ thì giống như lạc ở rừng không nhìn thấy mặt trời, người ta nói thì không biết phân biệt giả thật, rồi có khi lại đi lầm đường lạc lối mà làm biến thành người xấu”. Ní hay đùa với tôi…

Câu nói của Ní, đùa nhưng thật. Các trường, các xã vẫn báo cáo về con số phổ cập, xóa mù, nhưng đối với tôi, tôi chưa nhìn thấy việc tự học, thực học ở số đông người dân tộc thiểu số. Chất lượng giáo dục đã thay đổi đáng kể, trường lớp khang trang, thầy cô giáo gắn bản, nhiều người thiểu số trở thành cô giáo làng nhưng con số đó không nhiều so với gần 50% dân số là người dân tộc thiểu số như tỉnh Gia Lai mà tôi đang sống.

Tỷ lệ sinh cũng giảm, chất lượng dân số được cải thiện tính theo các tiêu chí, nhưng dường như sự phát triển của người dân tộc thiểu số vẫn không theo kịp với mặt bằng chung, đặc biệt trong kỷ nguyên số, ứng dụng công nghệ hiện đại như thời điểm hiện nay khi mà AI, Internet len lỏi về tận từng ngóc ngách của bản làng.

Tôi thuộc về rừng -0
Lễ hội cồng chiêng là nét văn hóa truyền thống độc đáo ở Tây Nguyên.

Sự việc đáng tiếc vừa xảy ra ở huyện Cư Kiun tỉnh Đắk Lắk trong rạng sáng ngày 11/6/2023 đã để lại một bài học đau xót. Tôi không nói về số người bị bắt, người mất, số trẻ thơ mất bố, về cộng đồng bị một phen choáng váng, rớm máu. Bởi vì, sự việc cũng đã xảy ra rồi, đứa trẻ nào rồi cũng đáng thương, sinh mệnh nào cũng là mạng sống, là con người được cha mẹ yêu thương, kỳ vọng, chăm chút, hy vọng. Mà tôi nói về việc nhìn lại sự việc đáng tiếc vừa qua. Kẻ gây tội ác phải bị trừng phạt thích đáng để răn đe và chịu trách nhiệm.

Nguyên nhân thì có nhiều và tôi thiết nghĩ nó có mối liên quan với giáo dục, dân trí, là tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân, của cộng đồng.

Viết đến đây tôi nhớ đến câu chuyện của mẹ mình, mẹ tôi nói, có hôm, có hai người lạ mặt lảng vảng đến làng, mẹ tôi bèn nhấc máy gọi ngay cho cán bộ xã. Mẹ tôi cũng được cho là “nhiều chuyện” nhưng bà nói, nhân dân phải là tai mắt của cán bộ, bởi lẽ, cán bộ có trăm tai mắt đâu mà khi nào cũng biết chuyện nọ, chuyện kia. Có điều, cán bộ phải làm sao để dân cảm giác được lắng nghe, khi dân tin, dân mới tỏ lòng, Tây Nguyên, nơi tôi được nuôi dưỡng bởi dòng sông Ayun mát ngọt. Tôi đã khóc khi buổi sáng hôm ấy, em trai tôi vơ vội áo đồng phục, không kịp ăn sáng chạy đến cơ quan khi nghe tin dữ. Mẹ tôi có mấy đứa con theo nghề binh nghiệp. Đành rằng phải dặn em mình chú ý, bình an trong nhiệm vụ được giao phó và cần tỉnh táo trước mọi thủ đoạn nhưng cũng không thể đoán trước toàn bộ tình huống xảy ra.

Những ngày này, tôi nghĩ mình cần phải viết gì đó, bởi vì lương tri của người cầm bút mình không thể lặng thinh. Nhưng cũng không biết viết gì, bởi tin tức ngoài kia đã đủ để đau xót và bàng hoàng. Thôi thì đành lặng lẽ, chọn một góc tối, ngồi nhớ lại những phút bình yên, khi những người làng đeo gùi đi phía sau đàn bò lùa lên từ phía giọt nước. Bụi đỏ mịt mùng để ánh mặt trời loang loáng chiếu một màn mờ mờ, bàng bạc. Từ phía nhà sàn, sợi khói vẫn bay lên cuộn với mùi cơm mới của lúa rẫy tuốt về…

Tôi ngửi được tất cả những mùi ấy, cả lúc an yên lẫn khi trở gió đổi trời, bởi tôi thuộc về rừng, về Tây Nguyên, nơi mà tôi đã gắn cả thanh xuân lặng lẽ… Tôi biết, cú sốc này khiến Tây Nguyên nứt nẻ, khô hạn nhưng rồi Tây Nguyên sẽ lành, sẽ nguyên vẹn như những ngày xưa bởi rừng hồi sinh nhanh lắm. Qua một mùa mưa thôi, cái rẫy bỏ hoang năm ngoái dây leo lại đan nhau chằng chịt, phía dưới cây con lại nương bóng nẩy mầm cắm sâu rễ cọc vào lòng đất mẹ…

Tạ Ngọc Điệp

Các tin khác

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.