Tội ác kinh hoàng của “dự án Lebensborn”

Năm 1933, sau khi lên nắm quyền ở Đức, Hitler ra lệnh cho Quốc hội ban hành Luật Nuremberg, cấm người Đức kết hôn với người Do Thái và các “chủng tộc hạ đẳng”. 6 năm kể từ lúc có luật này, trước tình trạng thiếu hụt dân số, Heydrich Himmler, chỉ huy lực lượng cảnh sát mật (SS) đã tiến hành một chiến dịch gọi là Lebensborn (Dòng chảy của sự sống), cho phép lính Đức ở các vùng bị chiếm đóng như Na Uy, Áo, Bỉ , Hà Lan, Pháp, Luxembourg, Đan Mạch… được lấy vợ bản xứ, thậm chí cưỡng dâm, hiếp dâm để có con…

Vườn ươm SS và ngôi nhà Lebensborn

Kể từ khi Luật Nuremberg ra đời cho đến lúc Thế chiến II bùng nổ (1939), tỉ lệ sinh con ở Đức giảm đi rõ rệt. Nếu như năm 1935, dân số Đức xấp xỉ 80 triệu người thì năm 1939, nó chỉ còn khoảng 75 triệu bởi lẽ Luật Nuremberg đã khiến nhiều người Đức, vốn được Hitler gọi là “chủng tộc thượng đẳng - Aryan” không thể lập gia đình với người Do Thái, Digan, Slave dù những người này sống ở Đức, có quốc tịch Đức.

leb1.jpg -0
Đại tá Steiner và những phụ nữ lấy chồng là sĩ quan SS.

Để bù đắp cho tình trạng thiếu hụt dân số và nhất là để duy trì “nòi giống Aryan”, Chiến dịch Lebensborn bật đèn xanh cho lính Đức được phép lấy vợ ở những quốc gia bị Đức chiếm đóng như Pháp, Na Uy, Áo, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Đan Mạch… và thậm chí được phép cưỡng dâm hoặc hiếp dâm. Nếu những phụ nữ ấy mang thai, họ sẽ được hưởng một chế độ đặc biệt gồm nhà ở, thức ăn, chăm sóc y tế rồi khi họ sinh con, đứa trẻ sẽ được giao cho lực lượng SS nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Theo Hitler, ông ta mong muốn năm 1945, dân số Đức phải đạt mức 120 triệu.

Một trong những nhân vật tích cực thực hiện Chiến dịch Lebensborn là Đại tá Erich Steiner. Đích thân ông ta kiểm tra từng phụ nữ mà lính Đức muốn lấy làm vợ. Tiêu chuẩn do Steiner đặt ra là “ưu tiên cho phụ nữ chưa từng kết hôn, thân hình cân đối, cao từ 1,7m trở lên, tóc vàng, da trắng, mắt xanh, xuất thân từ những dòng họ đã 3 đời không ai lấy người Do Thái, Digan hay Slave”.

Trong mật lệnh của Himmler gửi Steiner, Himmler viết: “Mục đích của Chiến dịch Lebensborn là phục vụ những nhà lãnh đạo SS trong việc lựa chọn, nhận nuôi những đứa trẻ đủ tiêu chuẩn. Nó nằm dưới sự chỉ đạo của cá nhân tôi, là một phần của Cục trung tâm giải quyết nhân lực SS. Nó có các nghĩa vụ: Hỗ trợ những gia đình thuần chủng Aryan, chăm sóc phụ nữ mang thai có giá trị về mặt chủng tộc, sinh học và di truyền. Chăm sóc, giáo dục những đứa trẻ được sinh ra, là nhiệm vụ và là vinh dự của các thành viên SS. Đơn xin gia nhập Lebensborn phải gửi cho chính tôi để được chấp thuận và phê duyệt”.

Với những yêu cầu khắt khe như thế, trong năm đầu của Chiến dịch Lebensborn, chỉ 40% phụ nữ ở những quốc gia bị chiếm đóng đạt được tiêu chuẩn nhưng đến năm 1940, nó là 70%. Riêng với những phụ nữ bị cưỡng dâm, hiếp dâm, con số này là 57,6%.

Nhằm tạo điều kiện cho những phụ nữ tham gia Chiến dịch Lebensborn, Himmler thành lập những “Vườn ươm SS - hay còn gọi là Ngôi nhà Lebebsborn” với đồ đạc, vật dụng sinh hoạt là chiến lợi phẩm lấy từ các gia đình Do Thái giàu có ở Đức và những quốc gia bị chiếm đóng. Tại “vườn ươm” này, phụ nữ sau khi xác định là đã có thai sẽ được hưởng chế độ ăn uống đầy đủ cùng sự chăm sóc y tế chu đáo. Khi họ sinh con và nếu là con trai, đứa trẻ cũng sẽ được nuôi dưỡng trong những điều kiện tốt nhất.

Ngôi nhà Lebensborn đầu tiên được khai trương tại Steinhoering, một làng nhỏ cách thành phố Munich, Đức vài chục km. Tiếp theo, có thêm 10 nhà nữa thành lập ở Đức, 9 nhà ở Na Uy, 2  nhà ở Áo còn những quốc gia như Bỉ, Hà Lan, Pháp, Luxemburg, Đan Mạch…, mỗi nơi 1 nhà. Trung bình mỗi nhà nuôi khoảng 3.000 phụ nữ. Nếu ai sinh con đúng ngày 1-10 thì Himmler đích thân đến thăm và tặng quà vì đó cũng là ngày sinh nhật ông ta. Với những phụ nữ sinh nhiều con - từ 3 đứa trở lên mà tất cả đều là trai, sẽ được Himmler trao huy chương “Mẹ của nước Đức”.

leb2.jpg -0
Trẻ sinh ra được giao cho nhân viên SS chăm sóc.

Các biện pháp kinh hoàng

Cuối năm 1939, Chiến dịch Lebensbork không mang lại kết quả như Himmler mong đợi nên ông ta ra lệnh cho tất cả sĩ quan SS và lực lượng cảnh sát “được phép làm mọi cách để có càng nhiều con càng tốt”, thậm chí Himmler còn chấp thuận cả với gái mại dâm miễn là họ phù hợp về nguyên tắc chủng tộc.  Chả thế mà chỉ riêng năm 1942, khoảng 100.000 trẻ sơ sinh - kết quả của những “mối tình 1 đêm” đã được đưa từ Ba Lan về Đức để “Đức hóa”. Tại những trung tâm nuôi dưỡng, khi bắt đầu có nhận thức, những đứa trẻ ấy được các y tá người Đức tuyên truyền rằng chúng là trẻ mồ côi vì cha mẹ chúng bị máy bay Anh, Pháp, Nga, Mỹ…, ném bom giết hại.

Muller (tên đã được thay đổi), một trong những trẻ xuất thân từ “vườn ươm SS” sau khi chiến tranh kết thúc và Chiến dịch Lebensborn đã được bạch hóa, khai với các công tố viên Tòa án xét xử tội phạm chiến tranh Nuremberg: “Mới 5 tuổi nhưng chúng tôi đã được dạy về lòng căm thù người Do Thái và những chủng  tộc hạ đẳng. Nhiều đứa khi được hỏi lớn lên sẽ làm gì thì chúng trả lời sẽ vào SS. Một số ít lơ là trong lớp học vì có thể chúng chưa cảm nhận được những gì mà các sĩ quan SS đã dạy thì vài ngày sau, chúng bị đưa đi mất. Sau này tôi mới biết chúng vào trại tập trung”.

Ở Na Uy, Chiến dịch Lebensborn đã tổ chức gần 400 cuộc hôn nhân giữa những sĩ quan SS và phụ nữ bản xứ với kết quả 250 trẻ ra đời. Tất cả những bà mẹ này đều bị buộc phải đồng ý cho con mình làm con nuôi nhưng không ai biết trẻ bị đưa về Đức. Khi chiến tranh kết thúc, Chính phủ Na Uy đã tìm lại được 80 trẻ. Các tài liệu về Lebensborn hiện vẫn còn lưu giữ tại Cục Lưu trữ quốc gia Na Uy.

Năm 1942, để trả đũa vụ ám sát Reinhard Heydrich, chỉ huy lực lượng SS ở Prague, Tiệp Khắc, một đơn vị SS đã xử bắn tất cả đàn ông trong làng Lidice rồi bắt đi 91 trẻ sơ sinh từ 6 tháng đến 2 tuổi, độ tuổi mà những kẻ chỉ huy Chiến dịch Lebensbord cho rằng “tốt nhất để Đức hóa” rồi đưa về Đức. Số còn lại gần 400 trẻ từ 3 đến 15 tuổi bị chuyển đến đến các “trại trẻ em đặc biệt” và không ai còn biết về số phận của chúng.

Folker Heinecke, một trong những trẻ 2 tuổi bị bắt về Đức cuối năm 1942 kể rằng ông cùng nhiều trẻ khác được SS chuyển đến bệnh viện Munich, Đức, để kiểm tra chủng tộc. Tiếp theo, một gia đình sĩ quan SS nhận ông làm con nuôi rồi đặt cho cái tên Đức là Folker Heinecke. Bây giờ đã 67 tuổi nhưng ông vẫn nhớ “cha” ông là người cuồng tín chủ nghĩa Quốc xã và là bạn thân của Himmler, kẻ vẫn thường xuyên đến thăm “cha mẹ” ông. Ông nói: “5 năm sau chiến tranh, tôi mới biết về nguồn gốc thật của tôi rồi phải mất thêm 3 năm nữa, tôi mới về được nơi cha mẹ ruột của tôi bị lính Đức sát hại để đặt hoa lên mộ”. Những trường hợp bị bắt cóc như Folker Heinecke ước tính là khoảng 12.000 trẻ.

Khi quân Mỹ và đồng minh giải phóng Pháp, Bỉ, Na Uy, Đan Mạch…, tất cả trẻ em đang sống trong các “vườn ươm SS” ở những quốc gia này đều được chuyển về Đức. Một ngày sau khi Hitler tự sát (1-5-1956), lính dù Mỹ khi tiến vào thị trấn Steinhoering đã tìm thấy hơn 300 trẻ từ 6 tháng đến 6 tuổi trong tình trạng đói khát vì hầu hết những người làm việc tại “vườn ươm SS” đã bỏ trốn.

Trên tờ Stars and Stripes (Sao và Sọc), là tờ báo của quân đội Mỹ có bài viết của phóng viên  Steve Collins về chuyện này: “Gần như tất cả mọi đứa trẻ khi tôi hỏi đều trả lời rằng chúng là người Đức, và chúng được cha mẹ gửi vào đây để trở thành một người Đức tốt”.

Ở Bremen và Leipsig, lính Anh và lính Nga cũng tìm thấy vài trăm đứa trẻ trong các “vườn ươm SS” nhưng cũng như ở thị trấn Steinhoering, tất cả những trẻ này chẳng ai biết rằng mình bị bắt cóc, hoặc được nuôi dạy chỉ với mục đích chuẩn bị cho một thế hệ thượng đẳng kế thừa. Hệ quả là khi được trả về cho gia đình thật của chúng, rất nhiều trẻ từ 5 đến 6 tuổi đã bị “Đức hóa” đến độ chẳng còn có thể hòa nhập!

leb3.jpg -0
Vườn ươm SS, nơi trẻ sẽ trở thành “chủng tộc thượng đẳng”.

Một thế hệ bị bỏ rơi

Cho đến nay, gần như không thể biết có bao nhiêu trẻ em ở các quốc gia bị chiếm đóng đã vào các “vườn ươm SS”. Năm 1946, Tòa án xét xử tội ác chiến tranh Nuremberg ước tính có hơn 250.000 trẻ được sinh ra bởi các cuộc hôn nhân chồng Đức, vợ bản xứ hoặc bị bắt cóc và chỉ có khoảng 25.000 trẻ được tìm thấy sau chiến tranh vì nhiều gia đình Đức nhận con nuôi giấu giếm không khai báo, thậm chí một trung tá làm việc cho Cơ quan mật vụ Gestapo khi tự sát để khỏi phải rơi vào tay quân Đồng Minh đã buộc vợ mình cùng 3 đứa con nuôi phải chết theo.

Bên cạnh đó, một số trường hợp chính những đưa trẻ ra đời từ các cuộc hôn nhân chồng Đức, vợ bản xứ hoặc bị bắt cóc đã từ chối trở về với gia đình thật của chúng vì chúng tin rằng chúng là người Đức “thuần chủng” chứ không phải là người Ba Lan, Na Uy, Bỉ hay Tiệp Khắc! Chưa hết, khoảng 27.500 trẻ bị đánh giá là “chưa đủ tốt để được Đức hóa” đã chết trong các lò thiêu của trại tập trung.

Các cuộc kiểm tra y tế sau chiến tranh cho thấy đại đa số những trẻ sống trong các “vườn ươm SS” có sức khỏe tốt hơn rất nhiều so với những trẻ cùng trang lứa, sống với cha mẹ ruột. Chúng được tắm mỗi ngày 2 lần, được phơi nắng trong những khoảng thời gian thích hợp. Sữa, trứng và thịt là những thứ thường xuyên xuất hiện ở những bữa ăn hàng ngày trong lúc những đứa trẻ bên ngoài hầu như phải chịu đựng những khẩu phần chết đói!

Sau Thế chiến II, những kẻ cầm đầu Chiến dịch  Lebensborn hoạt động ở Đông Bắc châu Âu bị cáo buộc tội danh bắt cóc những đứa trẻ được xem là “có giá trị về mặt chủng tộc” nhưng các công tố viên chỉ tìm thấy 340 chứng cứ vì các thành viên SS đã đốt bỏ toàn bộ hồ sơ của “vườn ươm” trước khi tháo chạy.

Nhiều phụ nữ Đức và những người khác ở Na Uy, Áo, Bỉ , Hà Lan, Pháp, Luxembourg, Đan Mạch… đã lấy chồng hoặc mang thai ngoài giá thú với những sĩ quan SS để sinh ra những đứa trẻ “thượng đẳng” bị cộng đồng xua đuổi, miệt thị, thậm chí còn bị cạo trọc và đánh đập, còn những đứa trẻ trở về với xã hội từ những “vườn ươm” SS thì bị tẩy chay.

Erich Wolgang, năm nay 72 tuổi, sống tại một đường hầm tàu điện ngầm ở Hamburg, Đức, vẫn nhớ như in về những ngày đó: “Cha mẹ nuôi bỏ rơi tôi vì sợ bị kết tội. Tôi không biết cha mẹ ruột mình là ai. Tôi sống lay lất trong trại tế bần và ở đây, tôi học được cách nói láo, trộm cắp, lừa đảo. 13 tuổi tôi đã nghiện thuốc lá, 15 tuổi nghiện rượu.

18 tuổi, cách kiếm sống duy nhất của tôi là bốc vác hàng hóa ở bến tàu Hamburg và nếu có điều kiện cướp giật, tôi cũng làm”. Ở Na Uy sau chiến tranh, trẻ có cha là người Đức, mẹ Na Uy thường bị bắt nạt, hãm hiếp, lạm dụng hoặc ngược đãi. Chính phủ Na Uy đã từng cố gắng trục xuất những trẻ này về Đức nhưng không thành công. 

Tháng 11-2006, tại thị trấn Wernigerode, Đức, một cuộc họp đã diễn ra giữa những người từng sống trong các “vườn ươm SS” với mong muốn xóa tan những thành kiến xã hội cũng như được trả lại nguồn gốc rõ ràng. Anni-Frid “Frida” Lyngstad, thành viên của nhóm nhạc ABBA nổi tiếng thế giới, cũng xuất thân từ một “vườn ươm” nói: “Chừng nào những đứa trẻ bị bắt cóc hoặc bị cho làm con nuôi Đức Quốc xã chưa tìm được chỗ đứng thật của mình thì chừng đó, họ vẫn chỉ là một thế hệ bị bỏ rơi…”

Vũ Cao (Theo Project Lebensborn)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.