Tình báo Anh trong cuộc thảm sát ở Indonesia

Truyền thông Anh vừa công bố các tài liệu mật tiết lộ một chiến dịch tuyên truyền do Anh tổ chức được xem là nguồn kích động lớn cho một trong những vụ thảm sát tàn bạo nhất của thế kỷ 20. Mục tiêu của chiến dịch tuyên truyền là kêu gọi, kích động người dân và quân đội Indonesia tham gia vào phong trào “loại bỏ cộng sản”.

Đầu năm 1965, Ed Wynne, một quan chức của Bộ Ngoại giao Anh ở London đến trước cửa một ngôi biệt thự hai tầng nằm trong một khu nhà ở sang trọng, yên tĩnh, kín đáo của thuộc địa Singapore. Nhưng Wynne không phải là quan chức bình thường. Là một chuyên gia của Phòng Nghiên cứu Thông tin (IRD), bộ phận tuyên truyền chiến tranh lạnh của Bộ Ngoại giao Anh.

Ông ta được chỉ định lãnh đạo một nhóm nhỏ gồm quan chức cấp dưới, bốn người địa phương và hai “quý bà IRD” được biệt phái đến từ London. Sự xuất hiện của Wynne và các đồng nghiệp của ông ta ở đường Winchester đánh dấu sự khởi đầu của một trong những hoạt động tuyên truyền thành công nhất trong lịch sử nước Anh thời hậu chiến.

Một hoạt động tuyệt mật đã giúp lật đổ nhà lãnh đạo của đất nước đông dân thứ tư trên thế giới và góp phần vào vụ sát hại hơn nửa triệu công dân của quốc gia này. Kết quả của chiến dịch hỗn loạn đó là sự ra đời của chế độ độc tài quân phiệt tàn bạo và tham nhũng kéo dài 32 năm ở Indonesia.

Hai năm trước đó, để đối phó với kế hoạch của Anh nhằm tạo ra quốc gia độc lập Malaysia, Tổng thống thiên tả Sukarno của Indonesia đã phát động một phong trào “Konfrontasi” (Đối đầu), một cuộc chiến không khai báo bao gồm các cuộc triển khai quân đội qua biên giới vào miền Đông Malaysia. Tổng thống Sukarno, giống như nhiều người Indonesia, bao gồm cả đảng Cộng sản Indonesia (PKI), tin rằng việc thành lập một liên bang Malaysia là sự can thiệp không chính đáng của người Anh vào khu vực nhằm duy trì sự thống trị thuộc địa của họ.

Người Anh buộc phải cung cấp nguồn lực quân sự và tình báo khổng lồ để giúp Malaysia chống lại các cuộc xâm nhập của Konfrontasi. Chính sách của Anh là chấm dứt “xung đột”, nhưng mục tiêu của họ thì không dừng lại ở đó. Giống như các đồng minh Mỹ và Australia, Anh sợ một Indonesia cộng sản. PKI có ba triệu thành viên và ở gần Trung Quốc.

Ở Washington, “quân cờ domino” Indonesia rơi vào phe cộng sản được coi là một mối đe dọa lớn hơn sự đánh mất miền Nam Việt Nam. Mối đe dọa đó sẽ giảm bớt đi nếu Tổng thống Sukarno và Bộ trưởng Ngoại giao Subandrio của ông bị “bứng” khỏi vị trí đó và ảnh hưởng của PKI ở Indonesia giảm bớt đi. Một trong những cách hợp lý nhất là kích động quân đội Indonesia chống cộng sản.

Tình báo Anh trong cuộc thảm sát ở Indonesia -0
Tổng thống Indonesia Sukarno (phải) với nhà lãnh đạo Liên bang XôViết Nikita Khrushchev năm 1960.

Và cơ hội đã đến vào giữa năm 1965. Một nhóm cánh tả bí mật, sau này có tên gọi là “phong trào 30 tháng 9”, tập hợp lại ở Indonesia, tin rằng quân đội đang lên kế hoạch lật đổ Tổng thống Sukarno và đàn áp PKI. Vào đêm 30-9-1965, các sĩ quan cánh tả dưới sự chỉ huy của Trung tá Untung của đội cận vệ tổng thống, với sự hỗ trợ của một số tiểu đoàn, đã tấn công phủ đầu bộ chỉ huy cấp cao của quân đội.

Họ đã bắt giữ 7 tướng lĩnh cao cấp nhất của quân đội Indonesia. Ba người, bao gồm cả chỉ huy bộ binh, đã thiệt mạng trong lúc giao tranh. Ba người khác bị sát hại tại căn cứ không quân Indonesia, nơi họ bị giam giữ. Thi thể của các vị tướng bị ném xuống giếng. Chỉ duy nhất Bộ trưởng Quốc phòng, tướng Nasution trốn thoát.

Nhưng đến tối ngày 1-10, tướng Suharto, chỉ huy đơn vị chiến đấu chính của quân đội lên nắm quyền chỉ huy quân đội và tiến hành một cuộc phản công trong vòng ba ngày đã vô hiệu hóa hoàn toàn cuộc nổi dậy. Mặc dù hiện nay người ta tin rằng chủ tịch của PKI và người của ông đã tham gia vào âm mưu đảo chính, nhưng không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy Tổng thống Sukarno biết trước hoặc PKI phải chịu trách nhiệm về âm mưu đảo chính đó.

Nhưng cuộc đổ máu không kết thúc ở đó. Tướng Suharto được bổ nhiệm làm chỉ huy quân đội tối cao vào ngày 14-10. Ngay sau đó, ông ta đã sử dụng cuộc nổi dậy làm cái cớ để lật đổ Tổng thống Sukarno và “cái cớ để giết người hàng loạt”, theo cách gọi của giới nghiên cứu lịch sử. Bộ Ngoại giao Anh luôn bác bỏ việc Anh có dính líu tới cuộc thảm sát những người cộng sản Indonesia. Nhưng hồ sơ vừa giải mật ở Cục Lưu trữ Quốc gia Anh (National Archives) tiết lộ rằng các cơ quan tình báo Anh và các chuyên gia tuyên truyền đã đồng lõa, thực hiện các hoạt động bí mật nhằm phá hoại chế độ của Tổng thống Sukarno và loại bỏ PKI bằng cách lợi dụng cuộc đảo chính Untung để quy kết trách nhiệm cho họ.

Bài bản tuyên truyền của chính phủ Anh được chuyên gia Ed Wynne của IRD sử dụng một cách nhuần nhuyễn. IRD được chính phủ Anh thành lập vào năm 1945 để chống lại hoạt động tuyên truyền của Liên Xô và xuất bản các tài liệu chống cộng. Cơ quan này liên kết chặt chẽ với MI-6 và chủ yếu thực hiện các hoạt động tuyên truyền chiến tranh lạnh tương tự như CIA cách đã làm. Một cơ quan có cái tên nhạt nhẽo là Đơn vị Giám sát Đông Nam Á (SEAMU) được thành lập theo đề nghị của Đại sứ Anh tại Indonesia Andrew Gilchrist. Ngài Đại sứ Gilchrist ôm “mối hận” đối với PKI do đại sứ quán của ông ở Jakarta đã bị những người biểu tình PKI đốt trụi vào năm 1963.

Mặc dù các biện pháp “chiến tranh tâm lý” chiến thuật hạn chế chống lại quân đội Indonesia đã được đưa ra, vào năm 1964 các ý tưởng đã được triển khai nhằm làm suy yếu “chế độ Sukarno/Subandrio” và vì vậy chấm dứt đối đầu. Điều mà Gilchrist muốn và nhiệm vụ của đơn vị là sản xuất các tài liệu “tuyên truyền đen”, do những người Indonesia ở nước ngoài trực tiếp thực hiện, để kích động những người chống cộng trong nước.

Các mục tiêu quan trọng của một bản tin “tuyên truyền đen” sẽ bao gồm “càng nhiều càng tốt những quan chức trong hệ thống chính phủ, quân đội và các cơ quan dân sự”. Để che giấu nguồn gốc Anh của bản tin, bản tin đã được gửi đến Indonesia qua các thành phố thuộc châu Á như Hong Kong, Tokyo và Manila. Trong vòng một năm, 28.000 bản tin, viết bằng tiếng Indonesia với tên gọi là Kenjataan 2 (Sự thật 2), đã được gửi đi và đã đến tay Bộ trưởng Quốc phòng, các tướng lĩnh, báo chí phe hữu và thậm chí cả Tổng thống Sukarno.

Đến cuối tháng 9-1965, chiến dịch tuyên truyền của Wynne đã hoạt động “hết công suất” và sẵn sàng lợi dụng triệt để cuộc đảo chính Untung. Đó là khoảnh khắc mà người Anh đã chờ đợi. Như một quan chức Bộ Ngoại giao Anh nhận xét: “Một cuộc đảo chính non của PKI có thể là giải pháp hữu ích nhất cho phương Tây - với điều kiện cuộc đảo chính đó không thành công”.

Và bản tin kích động bạo lực của IRD đã được gửi vào thời điểm quan trọng đối với việc ông Suharto tranh giành quyền lực và các hoạt động chống PKI của quân đội. Trong khoảng thời gian đó, trên các phương tiện truyền thông Indonesia xuất hiện đầy rẫy thông tin “tuyên truyền đen” chống PKI, khơi gợi sự tức giận của dân chúng Indonesia đối với những người cộng sản và hợp pháp hóa các động thái đã được lên kế hoạch chống lại PKI và Tổng thống Sukarno.

“Bản tin đặc biệt” và các bản tin nảy lửa khác trong loạt bản tin “tuyên truyền đen” đã được gửi đến khoảng 1.500 người nhận. Một báo cáo của SEAMU ghi nhận thông tin tình báo rằng độc giả “bị ảnh hưởng theo hướng cần thiết”. Các bản tin đã được IRD ở London chấp thuận trước khi gửi đi.

Tình báo Anh trong cuộc thảm sát ở Indonesia -0
Thành viên đảng PKI bị bắt.

Khi cuộc thảm sát tiếp diễn vào mùa thu năm 1965, đơn vị IRD ở Singapore trấn an độc giả của họ về sự cần thiết của cuộc tàn sát. Trong Bản tin 21, họ viết: “Trừ phi chúng ta duy trì một chiến dịch mạnh mẽ để tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản… “mối đe dọa đỏ” sẽ bao trùm chúng ta một lần nữa.” Trong Bản tin 23, các nhà tuyên truyền Anh đã ca ngợi quân đội và cảnh sát đã “làm việc rất xuất sắc” và một lần nữa kêu gọi “tiêu diệt cộng sản Indonesia”.

Cuộc đảo chính hụt và hậu quả của nó trùng hợp với việc một trong những nhà tuyên truyền hàng đầu của Bộ Ngoại giao Anh đến Singapore. Đại sứ Gilchrist cho rằng nỗ lực tuyên truyền mở rộng của Anh là không đủ. Ông yêu cầu phái Norman Reddaway làm “điều phối viên chiến tranh chính trị” chống lại Indonesia với sự hỗ trợ của Tổng Tham mưu trưởng Quốc phòng, Lord Louis Mountbatten. Reddaway đã từng phục vụ trong quân đội trong Chiến tranh thế giới thứ hai trước khi gia nhập Bộ Ngoại giao và đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập IRD.

Sau cuộc đảo chính Untung thất bại, ông đến để điều phối các hoạt động bí mật của người Anh. Trong một cuộc phỏng vấn báo chí vào năm 1996, Reddaway nói rằng ông đã được Bộ Ngoại giao cấp ngân sách 100.000 bảng Anh và được yêu cầu “làm bất cứ điều gì tôi có thể làm để tống khứ ông Sukarno”. Chỉ bây giờ chúng ta mới biết “bất cứ điều gì” có nghĩa là gì.

Một bản đánh giá bí mật về các hoạt động của IRD của Reddaway, được viết cho người đứng đầu IRD vào tháng 7-1966, sau khi Tổng thống Sukarno bị phế truất. Trong đó, Reddaway tuyên bố rằng các cuộc họp giao ban của ông với báo chí đã có hiệu quả trong việc lay chuyển dư luận toàn cầu và hoạt động tuyên truyền đã thành công tốt đẹp. Ông nói: “Cỗ máy tin tức là con mồi của chúng tôi: bản tin và các hoạt động phi chính thống là kim chỉ nam của chúng tôi. Trong một tài liệu khác, ông báo cáo rằng IRD và các tướng lĩnh đã “hòa giọng” rất tốt.

Reddaway đã xác định những người nhận bản tin hữu ích nhất của ông là các hãng thông tấn, vì họ “ít kén chọn hơn và ít để lại dấu vết hơn”. Đương nhiên, một trong những nguồn tin chính của Reddaway là Đại sứ Anh tại Jakarta Gilchrist. Ngoài ra, Reddaway cũng tìm nguồn thông tin cho hoạt động dựa vào tình báo tín hiệu (SIGINT). Điều này hoàn toàn thuận tiện cho Reddaway bởi Singapore thời điểm đó là một địa điểm giám sát của GCHQ.

Địa điểm giám sát tại Singapore của GCHQ có tên gọi là RAF Chia Keng, nằm ẩn khuất trong một trạm liên lạc RAF trên đường Yio Chu Kang ở phía đông Singapore, hiện nay là một khu nhà ở. Các “bungalow” nghe lén được bảo vệ rất nghiêm ngặt của GCHQ có cửa sổ bằng kính mờ bên trong có khoảng 50 nhân viên mỗi ca làm việc. Căn cứ được xây dựng hoàn thiện một cách nhanh chóng để tiếp nhận thông tin báo cáo đầy đủ về các diễn biến ở Indonesia. GCHQ có thể dễ dàng đọc các mật mã của Indonesia là do Chính phủ Indonesia sử dụng thiết bị do công ty Crypto AG có trụ sở tại Thụy Sĩ cung cấp.

Trong hơn 50 năm, Crypto AG đã cung cấp các máy mật mã đã bị bí mật bẻ khóa sẵn, với các cửa sau cài sẵn mà CIA và GCHQ có chìa khóa để đột nhập. Trong một bức điện ngày 30-10-1965, Reddaway gửi cho Brian Tovey, sau này là giám đốc của GCHQ, Reddaway đã nói rằng các dữ liệu của GCHQ đã “giúp các tướng lĩnh Indonesia bắt bớ người của PKI hiệu quả hơn”.

Các bản tin vẫn là công việc cốt lõi của Ed Wynne và các đồng nghiệp của ông ở IRD. Chủ đề chính là khuyến khích những độc giả có ảnh hưởng ủng hộ chiến dịch của quân đội chống lại những người cộng sản. Để làm được điều đó, IRD đã bịa ra những câu chuyện giả dối giật gân.

Chẳng hạn, tờ Jakarta Daily Mail (ủng hộ quân đội) trong số ra ngày 5-11 đã tung tin: “Vào ngày diễn ra cuộc đảo chính Untung, 100 phụ nữ thuộc tổ chức phụ nữ Gerwani của PKI đã tra tấn một trong các tướng lĩnh bằng cách sử dụng dao lam và dao để rạch bộ phận sinh dục của ông trước khi bắn chết ông”. Và câu chuyện về sự tra tấn các tướng lĩnh bởi những người phụ nữ Gerwani đã được sử dụng để biện minh cho cuộc hủy diệt PKI và từ đó ra đời chế độ độc tài Suharto.

IRD đã cố tình im lặng trước các vụ thảm sát. Một bản tin của IRD vào tháng 12-1965 đã cẩn thận trình bày các tài liệu mô tả “sự tàn bạo” của PKI nhưng không đề cập rõ ràng về các vụ giết người của quân đội. Trong báo cáo của SEAMU năm 1965, Wynne viết rằng quân đội Indonesia đã sử dụng bản tin để làm căn cứ tiếp tục tấn công PKI. Vào đầu năm 1966, các vụ giết người hàng loạt ở Indonesia đã được lan truyền đi khắp nơi trên thế giới, bị nhiều nước lên án.

Đến tháng 3-1966, chiến dịch thảm sát PKI khiến hơn nửa triệu người chết gần như đã kết thúc. Vào ngày 11-3, Tổng thống Sukarno buộc phải giao lại quyền lực cho tướng Suharto, và phong trào Đối đầu gần như đã chấm dứt. Vào ngày 14-3, Reddaway viết báo cáo cho Đại sứ Gilchrist: “Mọi thứ đã thành công mỹ mãn”.

Nguyên Khang (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.