"Tiếng thu" còn mãi

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã rất tinh khi cho rằng, trong "Tiếng thu", Lưu Trọng Lư "tỏ ra vụng về", và "Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ". Càng tinh tế hơn khi Trần Đăng Khoa nhận ra: "Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa".  

Đã từ lâu, hễ nhắc tới vai trò người mở đầu phong trào Thơ Mới, đa phần các ý kiến đều hướng về Thế Lữ. Nhà phê bình văn học Lê Đình Kỵ, trong lời giới thiệu "Tuyển tập Thế Lữ" (NXB Văn học, 1983) thậm chí còn viết rõ rằng, sau việc ra đời những bài thơ có giá trị của Thế Lữ, "thế là con đường đã mở, đón mời một lớp các nhà thơ mới có tài năng như Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Tế Hanh, Anh Thơ…". Tuy nhiên, cũng không vì thế mà không có người khẳng định vị trí tiên phong thuộc về Lưu Trọng Lư.

Kể ra, nếu căn cứ vào thời gian xuất hiện của bài "Vắng khách thơ" (sau này tác giả đổi tên là "Xuân về") - bài thơ được cho là có dấu hiệu "mới" của thi sĩ họ Lưu (đăng trên Báo Phụ nữ tân văn năm 1932, hưởng ứng bài thơ "Tình già" của nhà văn Phan Khôi) thì vai trò tiên phong thuộc về Lưu Trọng Lư thật. Tuy nhiên, cái mới của Lưu Trọng Lư khác với cái mới của Thế Lữ. Như người mặc chiếc áo chật, phải nới bớt cổ áo cho rộng, cắt bớt gấu áo cho gọn, động thái ấy của Lưu Trọng Lư không phải là động thái quyết liệt, dám thay chiếc áo cũ bằng một chiếc áo có thiết kế hoàn toàn mới, phù hợp với cuộc sống hiện đại như trường hợp của Thế Lữ. Bởi thế, cái "mới" trong thơ Lưu Trọng Lư giai đoạn 1932 -1933 mới chỉ thể hiện ở những dấu hiệu thuộc về cảm xúc (có phần phóng khoáng, từng ít nhiều ẩn chứa trong thơ cổ Á Đông). Còn với Thế Lữ, cái "mới" của ông thể hiện ở tư tưởng, quan điểm sống, ở cách nhìn nhận vấn đề mang tính khái quát cao, đậm dấu ấn phương Tây. Vả chăng, cái mới trong những bài thơ khởi đầu của Lưu Trọng Lư chủ yếu gây sự hưng phấn nơi người đọc, cái mới của Thế Lữ tác động mạnh tới giới cầm bút.

Hãy so sánh những câu trong bài "Vắng khách thơ" của Lưu Trọng Lư: "Rồi ngày lại ngày/ Sắc màu: phai/ Lá cành: rụng/ Ba gian: trống/ Xuân đi/ Chàng cũng đi/ Người xưa không thấy tới", với những câu trong bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ: "Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối?/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan/ Đâu những ngày mưa chuyển động bốn phương ngàn/ Ta lặng ngắm cảnh giang san ta đổi mới?/ Đâu những buổi bình minh cây xanh nắng gội/ Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?/ Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng/ Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt/ Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?/ - Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu?", cũng là cảnh trí thay đổi với những lời than thở, nhưng cấp độ cảm xúc, cách thể hiện tư tưởng ở Thế Lữ rõ ràng mạnh hơn, lắt léo hơn.

Đứng ở góc độ nghề nghiệp mà so sánh thì giữa Lưu Trọng Lư và Thế Lữ cũng có những khác biệt cơ bản. Thế Lữ là người "chắc tay nghề", biết hay biết dở và một khi cảm thấy trong mạch cảm xúc của mình không ánh lên được ý tưởng nào mới, ông gần như "án binh bất động". Thơ ông vì thế ít câu non lép. Ngược lại, Lưu Trọng Lư lại ít chú tâm đến cái gọi là "trau dồi nghề thơ". Hoài Thanh là người bạn chí thiết, một fan hâm mộ Lưu Trọng Lư cũng từng phải thốt lên trong "Thi nhân Việt Nam": "Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt dũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy…". Tuy nhiên, "trong cái rủi có cái may", chính sự buông lỏng tay nghề, cái sự không chí thiết "làm thơ" ấy, cộng với chất tâm hồn lãng tử, tài hoa của Lưu Trọng Lư đã vô tình giúp ông có được những bài thơ - không phải là hay nhất - mà, nói theo cách của Trần Đăng Khoa là "thơ nhất" trong thi ca Việt Nam hiện đại.

Lưu Trọng Lư từng viết trong bài "Tình điên": "Ta hát dăm câu vô nghĩa lý/ Lá vàng bay lả vào buồng ta/ Ta viết dăm câu vô nghĩa lý/ Người điên xem đến hiểu lòng ta". Quả là, đọc thơ Lưu Trọng Lư, ta cũng có cảm giác vậy. Có khi đó chỉ là những câu không thật rõ nghĩa, thậm chí "vô nghĩa lý", nó "bay lả" vào buồng - tâm - hồn - ta, song bằng trực cảm gợi lên từ âm điệu của bài thơ, ta vẫn cảm nhận được sự gửi gắm của tác giả. Và về mặt này thì Lưu Trọng Lư thật đáng tôn vinh là thi sĩ, thậm chí, mượn chữ của Hoài Thanh - "thi sĩ hơn ai hết".

Bài thơ "Tiếng thu" là một trong những minh chứng tiêu biểu cho lối thơ ấy. Như những giọt buồn mơ hồ len lỏi, nó làm thức dậy trong hồn ta sự xao xác khôn nguôi. Đây là bài thơ mà ngữ nghĩa không cần xác định chắc chắn (bằng chứng là mấy chữ "Em không nghe mùa thu" nếu có thay bằng mấy chữ "Em có nghe mùa thu" thì ngữ nghĩa cũng vẫn… như nhau), các hình ảnh nối nhau hiện lên, đẹp, ám ảnh và mỏng manh như những cái chớp mắt:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức? 

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ? 

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Với một bài thơ như thế, cách tốt nhất là đọc chậm, thật chậm, cốt để âm hưởng buồn buồn của nó ngân nga, thấm sâu và tỏa lan, để rồi từ đó đánh thức một "cõi mộng" còn ẩn khuất đâu đó trong sâu kín lòng ta… Xuân Diệu từng viết: "Ai đem phân chất một mùi hương/ Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương/ Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc/ Như thuyền ngư phủ lạc trong sương". Với những bài như "Tiếng thu", ta cần có cách xử sự tinh tế theo kiểu trên. Thật "hãi hùng" khi tôi đọc được đây đó lời bình bài thơ này của một nhà phê bình tên tuổi, mà độ dài lên tới 6.000 chữ (6.000 chữ cho một bài thơ chỉ 45 chữ), với những nhận xét… kinh hoàng, đại thể như "phải chăng con nai là hiện thân của em?", rằng thì cả bài thơ "chỉ có câu hỏi mà không thấy câu trả lời, chỉ có một bên nghe mà phía em thì mù mịt" (xin xem bài "Ngôn ngữ với việc tiếp nhận tác phẩm thơ" của TĐS, sách "Đọc văn, học văn", NXB Giáo dục, 2001). Cứ lối "vày vò bới việc" thế này thì mọi sự tinh tế, thanh thoát của thi ca chẳng mấy chốc tiêu ma.

Trước Lưu Trọng Lư, ở đời nhà Tống (Trung Quốc), tác giả Âu Dương Tu đã có một bài phú lấy tên là "Tiếng thu", và bên Nhật, ở thế kỷ thứ VIII, cũng đã có một bài thơ Tanka có những câu vẽ lên hình ảnh con nai vàng ngơ ngác đạp chân trên lá vàng khô như trong thơ Lưu Trọng Lư. Vậy nhưng đâu vì thế mà bài thơ của Lưu Trọng Lư mất đi sự hấp dẫn? Điều ấy cho thấy, chính âm điệu luyến láy, tinh diệu kết hợp với những mơ hồ trong cấu tứ chính là nét đặc sắc, làm nên sự khơi gợi đến ám ảnh của "Tiếng thu". Việc nhà phê bình cố công "chẻ sợi tóc làm tư", chồng chất lên bài thơ những ngữ nghĩa mà nó không hề có càng khiến bài thơ trở nên nặng nề và xa lạ với người đọc.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã rất tinh khi cho rằng, trong "Tiếng thu", Lưu Trọng Lư "tỏ ra vụng về", và "Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ". Càng tinh tế hơn khi Trần Đăng Khoa nhận ra: "Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa".  

Thật ra, không chỉ với "Tiếng thu" mà ở những bài thơ hay khác của Lưu Trọng Lư, đây đó vẫn xuất hiện những câu độn không được "thơ" như vậy. Như ở bài "Nắng mới", một bài thơ có những chi tiết thấm thía, xúc động về người mẹ, có ai ngờ sau mấy câu rất gợi không khí "Mỗi lần nắng mới hắt bên song/ Xao xác gà trưa gáy não nùng/ Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng/ Chập chờn sống lại những ngày không" lại là hai câu thật thà như đếm: "Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời/ Lúc người còn sống, tôi lên mười"; cũng như ai ngờ trước hai câu đầy ấn tượng "Nét cười đen nhánh sau tay áo/ Trong ánh trưa hè trước dậu thưa" lại là một câu thơ vụng về "Hãy còn mường tượng lúc vào ra". Hay như ở bài "Thơ sầu rụng" - một bài thơ từng được nhiều người biết tới của Lưu Trọng Lư, hai câu "Để tóc vướng vần thơ sầu rụng/ Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo" nếu bóc tách ra thì thật vô nghĩa, nhất là khi ai đó muốn mổ xẻ ngữ nghĩa một cách trần trụi. Vậy nhưng, theo cách nói của Trần Đăng Khoa, để trong tổng thể bài thơ thì người ta "không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa". Như thể vết khâu, chỉ khi hết thuốc mê ta mới cảm nhận được cái đau… Âu đó cũng là sự tài tình của Lưu Trọng Lư.

Nhà phê bình Hoài Thanh từng tâm sự về sức ám ảnh của thơ Lưu Trọng Lư: "Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai". Theo tôi, sở dĩ có được điều này là bởi thơ Lưu Trọng Lư - ở những bài tiêu biểu nhất - đã có được thứ nhạc tính rất có ma lực. Đây - bài "Mưa… mưa mãi" với tiết tấu giai điệu trở đi trở lại cùng một số từ ngữ quen thuộc đã đủ nói lên cái buồn rả rích, cái quẩn quanh, tù đọng của hồn người:

Mưa mãi mưa hoài!
Lòng biết thương ai!
Trăng lạnh về non không trở lại… 

Mưa chi mưa mãi!
Lòng nhớ nhung hoài!
Nào biết nhớ nhung ai! 

Mưa chi mưa mãi!
Buồn hết nửa đời xuân!
Mộng vàng không kịp hái. 

Mưa mãi mưa hoài!
Nào biết trách ai!
Phí hoang đời trẻ dại.

Mưa hoài mưa mãi!
Lòng biết tìm ai
Cảnh, tưởng đầy nơi quan tái

Bài "Còn chi nữa" cũng có những câu gây xao xuyến, thổn thức lòng người bởi những ký ức đẹp và buồn được ký gửi trong những giai điệu ngân nga, buồn tủi như muốn níu kéo một thời khắc đang dần chìm vào dĩ vãng…

So sánh Lưu Trọng Lư với các nhà "thơ mới" khác, nhà phê bình Hoài Thanh cho rằng, chỗ mà Lưu Trọng Lư "hơn người" chính là bởi ông "thành thực hơn". Theo Hoài Thanh "thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta". Tôi tán thành quan điểm này của Hoài Thanh và xin thêm một ý nhỏ là: Mặc dù theo nhìn nhận của tôi, Lưu Trọng Lư chưa phải là một nhà thơ lớn, bởi thơ ông không đặt ra những vấn đề cấp thiết, mang tính thời đại; bút pháp của ông không đa dạng; các bài tiêu biểu nhất của ông cũng không phải đã toàn bích, song thơ ông vẫn là một tiếng thơ quý, là một thứ "rau sạch" mà chúng ta cần coi trọng, bởi nó đang ngày một hiếm dần trong đời sống văn học hiện nay…

13/6/2011

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.