Tiếc nhớ Dương Kiều Minh!

Những năm ấy, Trường Viết văn Nguyễn Du không tuyển sinh hằng năm mà tuyển theo kiểu xong khóa này tuyển khóa khác. Khi tôi vào học khóa IV, nhà thơ Dương Kiều Minh đã ra trường, song tên tuổi anh vẫn "vang vọng" tới lớp chúng tôi bởi nghe các thầy nói lại thì về phần thơ, anh là thủ khoa...

Các nhà thơ mà chúng tôi quan hệ, giao lưu bên ngoài như Vân Long, Trúc Thông cũng rất khen Dương Kiều Minh. Họ cho thơ anh hiện đại, nhiều cách tân. Sau này, theo tôi nhớ thì chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đã nhận xét đâu đó trên một tờ báo, rằng nền thơ Việt Nam hiện đại có hai tác giả "đáng đọc nhất" là Dương Kiều Minh và Nguyễn Quyến.

Những điều ấy khiến tôi càng thêm chú ý tới Dương Kiều Minh và thơ anh. Tôi cũng đặc biệt ấn tượng về cái tên của anh - một cái tên mà theo tôi, hơi lạ, không có vẻ "Việt Nam lắm" (sau này tôi được biết, anh tên thật là Kiều Văn Minh). Mà không phải chỉ chúng tôi - lớp người viết kém anh gần chục tuổi - là nhìn Dương Kiều Minh một cách "vì nể" như vậy. Dương Kiều Minh còn được các bậc tiên chỉ làng văn dành cho một chỗ ngồi xứng đáng. Thời ấy, việc vào Hội Nhà văn vẫn còn khó nhọc, nhiêu khê lắm.

Tôi nhớ, năm 1988, nhà văn Hồ Anh Thái - tác giả nổi đình nổi đám với một loạt tập truyện ngắn, tiểu thuyết xuất bản vào giữa những năm 80 - được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Trong một bài viết về Hồ Anh Thái in trên Tiền phong cuối tuần, nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn (bấy giờ chưa là hội viên) đã phải nói một cách đầy ngụ ý, "nỗi niềm" rằng, đó là "nhà văn quốc doanh" trẻ nhất nước. Năm ấy Hồ Anh Thái 28 tuổi. Dương Kiều Minh sinh năm 1960. Năm 1991 anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, ở tuổi 31, anh là trường hợp trẻ thứ… nhì Hội Nhà văn Việt Nam khi ấy. Nói là trẻ vậy, song bấy giờ Dương Kiều Minh đã là "ông chủ" của 3 tập thơ chững chạc: "Củi lửa" (xuất bản năm 1989), "Dâng mẹ" (1990), "Những thời đại thanh xuân" (1991). Con đường văn chương của Dương Kiều Minh như vậy kể cũng hanh thông.

Lần đầu tiên tôi gặp (đúng hơn là được "nhìn thấy") Dương Kiều Minh là khi các học viên khóa IV chúng tôi chuẩn bị theo xe vào Nghi Xuân - Hà Tĩnh viếng mộ cụ Nguyễn Du. Từ trên xe khách đỗ ở cổng Trường Đại học Văn hóa, 103 Đê La Thành, theo tay nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc chỉ, tôi thấy một anh chàng nhỏ thó đang đủng đỉnh đứng trò chuyện với ông thầy của chúng tôi - Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Đến nay, tôi vẫn nhớ tới điệu cười khùng khục kèm câu bình luận của Nguyễn Lương Ngọc: "Trông Dương Kiều Minh oai chưa kìa". Quả là, với chúng tôi, không bao giờ chúng tôi có thể "dám" đứng nói chuyện với thầy Hiến ở tư thế như Dương Kiều Minh: Anh vừa khoanh hai tay trước ngực vừa gật gù với thầy Hiến, tư thế rất chi "hiên ngang". Thầy Hiến cũng hoàn toàn thoải mái, thậm chí có vẻ phấn khích nữa khi nói chuyện với Dương Kiều Minh. Khi ấy tôi nghĩ, hình như Dương Kiều Minh có gì đó hơi kiêu căng? Có thể là do anh được giới văn học "nghênh đón" xăng xái quá chăng?

Bìa tập thơ tuyển của Dương Kiều Minh.

Bìa tập thơ tuyển của Dương Kiều Minh.

Từ bấy trở đi, một thời gian dài tôi không gặp Dương Kiều Minh, chỉ nghe nói anh về công tác tại Hội Văn nghệ Hà Tây, là Phó chủ tịch, rồi tiếp đó, là Chủ tịch Hội. Thấy bảo cũng vất vả lắm, chẳng suôn sẻ gì, vì anh quê Mê Linh, Vĩnh Phúc (nay thuộc Hà Nội) chứ không phải người Hà Tây.

Ấn tượng về vẻ "kiêu kiêu" ngày nào của Dương Kiều Minh trong tôi đã thay đổi hoàn toàn khi tôi nhận được lá thư anh gửi, bày tỏ cảm xúc khi anh đọc bài bình của tôi về bài thơ "Củi lửa" của anh. Trong thư, giọng anh thể hiện một sự xởi lởi, nồng nhiệt. Anh mời tôi vào cơ quan anh chơi. Tuy bấy giờ tôi chưa gặp và trực tiếp trò chuyện với Dương Kiều Minh, nhưng qua những thông tin mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - người bạn chí thiết của anh - cung cấp (Nguyễn Quang Thiều bấy giờ được Tổng biên tập Hữu Ước bố trí ngồi chung phòng với tôi tại tòa soạn An ninh thế giới), tôi nhận thấy việc Dương Kiều Minh làm Chủ tịch Hội rất vất vả, phải che chắn đủ đường.

Một lần, Nguyễn Quang Thiều bức xúc kể với tôi, rằng anh vừa "trấn áp" một hội viên của Hội Văn nghệ Hà Tây để bênh vực ông bạn Chủ tịch của mình. Chẳng là, khi Nguyễn Quang Thiều đến phòng làm việc của Dương Kiều Minh, chứng kiến cảnh một hội viên đập bàn đập ghế quát mắng nhà thơ Chủ tịch Hội, trong khi nhà thơ Chủ tịch Hội chỉ biết gãi đầu gãi tai, lắp bắp giải thích điều gì đó (Dương Kiều Minh có tật nói cà lắp), Nguyễn Quang Thiều bực quá, vùng dậy ngắt lời vị kia, bảo thái độ của vị như vậy là hỗn, là "không có thứ hội viên nào lại xử sự với Chủ tịch Hội của mình như vậy". Nói rồi anh quay sang quở trách Dương Kiều Minh: "Ông hiền quá, để thế không được...”.

Sau này, gặp Dương Kiều Minh tôi mới thấy nhận xét của Nguyễn Quang Thiều là hoàn toàn chính xác. Dương Kiều Minh hiền quá, thậm chí có cảm giác là anh… nhu nhược nữa. Cộng với vóc dáng gầy gò, nhỏ thó, trông anh lại càng xo rụi, để lại cho người đối thoại một ấn tượng "khổ khổ" thế nào ấy. Chẳng thế mà, khi Hội Văn nghệ Hà Tây hợp nhất với Hội Văn nghệ Hà Nội, có người nêu ý kiến Dương Kiều Minh trẻ thế, phải làm… Chủ tịch Hội (Văn nghệ Hà Nội) mới đúng, nhiều người đã bác ngay: "Trông cóm róm thế, Chủ tịch Hội Thủ đô thế nào được. Phó Chủ tịch thế, là oách rồi".

Bản thân Dương Kiều Minh rất biết "thân phận" mình, nên khi nghe ai đó đặt vấn đề kiểu này, anh rất ngại, thậm chí rất… hãi! Nhìn cách xua tay, chối từ của anh khi ấy, không hiểu sao tôi lại cứ hình dung ra cảnh chú dế choắt trong truyện "Dế mèn phiêu lưu ký" của cụ Tô Hoài. Khi dế mèn xui dế choắt lên tiếng chọc ghẹo chị cốc, dế choắt đã rên lên: "Thôi thôi… hừ hừ…Em xin vái cả sáu tay. Anh đừng trêu vào, anh phải sợ…". Là tôi cứ hình dung vậy, còn sự thật, như tôi đã nói, Dương Kiều Minh biết tài mình đến đâu, sức mình đến đâu. Hẳn anh nghĩ, với anh, được thế này là ổn rồi? Tính anh không thích bon chen, muốn yên phận. Trong bài "Củi lửa", anh chẳng từng có câu "Mơ được về bên mẹ/ Ao xưa, mảnh vườn nhỏ ngày xưa/ Bậc thềm giàn giụa trăng mỗi tối", nghĩa là muốn được thanh thản với những ký ức tuổi thơ bên người thân đó sao?

Những ai từng công tác tại các Hội Văn nghệ, nhất là Hội Văn nghệ địa phương mới thấm thía, làm lãnh đạo Hội cũng chẳng phải sung sướng gì. Đúng là quyền rơm vạ đá. Riêng chuyện phải "chiều" cho hết các vị hội viên - trong đó có những người sáng tác thì ít, thích đấu đá, kiện cáo, đòi hỏi quyền lợi thì nhiều - đã là việc làm hao tổn bao thời gian, tâm sức. Chưa nói về mặt quyền lợi cũng không phải là hấp dẫn gì cho lắm.

Vừa rồi, tôi đọc thấy thông tin liên quan tới Chủ tịch Hội Nhà văn Cần Thơ - ông Trương Thanh Liêm. Ông này vừa làm đơn từ chức vì bị phát giác có hành vi… đạo báo. Lý do đưa ra nghe thật não lòng: Đó là do hoàn cảnh gia đình ông khó khăn, ông muốn kiếm thêm chút nhuận bút để cải thiện cuộc sống! Thật là vừa đáng giận, vừa đáng thương. Nhắc lại chuyện ông Liêm, tôi bỗng nhớ tới một lần, cách đây chừng 7 năm, Dương Kiều Minh đến chỗ tôi chơi. Đang say sưa chuyện văn chương, bất chợt Dương Kiều Minh hỏi tôi: "Tiên sinh (Dương Kiều Minh thường gọi bạn bè là tiên sinh) xem có chỗ nào lương tươm tươm một tí, giới thiệu tôi về làm. Chứ làm ở đây cực quá!". Tôi tròn mắt, ngỡ Dương Kiều Minh nói đùa. Song người bạn đi cùng Dương Kiều Minh hôm ấy gật đầu chứng thực điều Dương Kiều Minh nói là thật.

Tôi hỏi: "Tươm tươm là bao nhiêu?". Dương Kiều Minh khẽ đáp: "Khoảng 4 triệu gì đó". Tôi lại một phen tròn mắt: "Chẳng lẽ làm Chủ tịch Hội mà thu nhập không được như vậy?". Dương Kiều Minh nhăn nhó: "Ở Hội Hà Tây trông thế thôi chứ khó khăn lắm. Thu nhập của tôi chỉ tầm hai triệu rưởi là hết cỡ". Sau đó mấy năm, một lần gặp lại Dương Kiều Minh tại phòng làm việc của nhà thơ, nhà phê bình văn học Đinh Quang Tốn, tôi nhắc lại việc Dương Kiều Minh đặt vấn đề mấy năm trước với một người bạn cùng có mặt hôm ấy: "Này, bác xem có chỗ nào giới thiệu để bác Minh bác ấy chuyển cơ quan. Chỉ cần lương 4 triệu thôi". Nghe tôi nói vậy, Dương Kiều Minh lắp bắp: "Bây giờ phải … phải… 6 triệu. Đồng tiền trượt giá… trượt giá".

Đây không hề là chuyện đùa, các nhà thơ Đinh Quang Tốn, Quang Hoài có thể chứng thực cho tôi. Kể ra đây, tôi càng thấy thương xót cho một kiếp người, một kiếp thi sĩ. Thương lắm - Dương Kiều Minh!

Phút tiễn đưa Dương Kiều Minh về cõi vĩnh hằng, tôi không thể không nhớ tới mấy câu thơ anh viết trong bài "Củi lửa": "Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi/ Mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ/ Con về yêu mái rạ cuộc đời". Cầu cho linh hồn anh được thanh thản ở chốn thiên thu!

Hà Nội ngày 29/3/2012

Hà Khải Hưng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.