Thức sắc màu mùi...

Sẵn nghệ trong tay, muốn ngả mùi nào cũng được.

Giữ màu chiều khách, hễ trông sắc nước thời làm.

Đây là câu đối của nhà nho Vũ Tích Cống in trên tạp chí Nam Phong đầu thế kỷ XX. Có mấy từ cần lưu ý nhưng đáng quan tâm nhất vẫn “mùi/ ngả mùi”. Thoạt đọc qua, ta đã ngờ ngợ gì đó chăng? Lại nữa, những ai yêu thích “Tì bà hành” của Bạch Cư Dị hẳn còn nhớ đến hai câu cuối, qua bản dịch của Phan Huy Vịnh:

Lệ ai chan chứa hơn người

Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh

Có điều khiến chúng ta phân vân ở chỗ “mùi áo xanh”. “Mùi” thuộc về khứu giác, “áo xanh” thuộc về thị giác thì làm sao có thể kết hợp? Có phải do tuân thủ theo vần, câu lục là “người” ắt câu cuối phải nối theo “mùi”, chứ nếu sử dụng từ “màu” sẽ lạc nhịp? Lập luận này không sai, vì ngoài bản dịch trên, còn có người dịch:

Nực cười có kẻ riêng sầu

Áo lam Tư Mã còn màu gì xanh

Xét về nguyên văn: “Tọa trung khấp hạ thùy tối đa/ Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp” (Trong tiệc, người khóc nhiều hơn ai hết là ai?/ Đó là ông Tư Mã đất Giang Châu ướt đầm vạt áo xanh), ta thấy dùng từ màu là hợp lý. Vậy, chẳng lẽ một bản dịch nổi tiếng nhất đã dịch “Tì bà hành”, phổ biến từ thế kỷ 18 đến nay lại không ai “phát hiện” ra tréo ngoe của “mùi áo xanh”? Chẳng lẽ các nhà thơ lừng danh của Việt Nam như Thế Lữ, Quách Tấn, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương… đã lấy cảm hứng từ “Tì bà hành” để viết nên những áng thơ trác tuyệt cũng không biết nốt?

Vô lý quá.

Thật ra không vô lý gì cả, bởi “mùi áo xanh” hoàn toàn hợp lý.

Thức sắc màu mùi... -0
Thợ nhuộm ngày xưa (ảnh tư liệu).

Ta hãy khảo sát thêm câu thơ trong “Chinh phụ ngâm”, qua bản dịch Đoàn Thị Điểm - cùng thời với nhà văn hóa, dịch giả Phan Huy Vịnh: “Một năm một nhạt mùi son phấn/ Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi”. Cả hai ngữ cảnh này, “mùi” còn chính là màu. Từ điển Việt-Bồ-La (1651) cho biết: “Mùi: Mực, màu, mùi để nhuộm, mùy duộm hay nhuộm: cùng một nghĩa. Mùi thôi ra: Màu bị tiết ra, bị mất đi”. Mùy ghi theo chính tả hiện nay: mùi. Ngày xa xưa ấy, khi có ai bảo: “Chẳng có mùi gì”, còn phải hiểu theo nghĩa bóng như hiện nay là chẳng có lợi lộc, chẳng xơ múi, chấm mút được gì sất.

 “Mùi” hiểu như “màu” đến thời Đại Nam quấc âm tự vị (1895) vẫn còn ghi nhận: “Lựa mùi: Lựa màu, lựa nhuộm. Phai mùi: Phai màu”… Giữa mùi và màu là cùng cách nói của thời ấy, do đó, ta không ngạc nhiên khi đọc “Tư liệu Truyện Kiều” - từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu (NXB Văn Học-2004), với câu thơ quen thuộc:

Sắc in tuyết ngựa câu giòn

Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời

Qua khảo sát 9 bản “Truyện Kiều” ở thế kỷ 19, đã có đến 7 bản dùng từ “mùi”, chỉ có 2 bản dùng từ “màu” in ở trong Nam là bản Trương Vĩnh Ký (1875), bản Abel des Michels (1884). Rõ ràng từ “mùi” chiếm “ưu thế”.

Ngoài ra, cả hai bộ từ điển, tự vị trên cho biết còn có từ tương đương là “thức”. “Từ điển Việt-Bồ-La”: “Thức: Màu. Thức vàng: Vàng, vàng hoe. Sắc, mùi: cùng một nghĩa”; “Đại Nam quấc âm tự vị”: “Thức bạc: Màu trắng như bạc. Thức trắng: Vẻ trắng tinh” v.v...  Từ giải thích này, ta có thể hiểu rõ nghĩa của hàng loạt câu thơ quen thuộc như:

Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu

(Bà Huyện Thanh Quan)

 “Năm thức” là năm màu/ màu sắc. “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) cho biết: “Thức trắng, xanh, đỏ, vàng, đen. Về ngũ sắc”.

Thức, hiểu theo nghĩa này đã biến mất từ bao giờ? Không rõ, chỉ biết “Việt Nam tự điển” (1931) không còn ghi nhận nhưng đã bổ sung thêm nghĩa mà “Đại Nam quấc âm tự vị” không có: “Thức: Thứ, món. Thức ăn. Thức mặc”. Vậy, thức trong câu “Mùa nào thức này” là thuộc nghĩa này. Ai cũng thừa biết, thức trái nghĩa với ngủ/ chợp mắt ngủ/ nhắm mắt ngủ, nào ngờ, trong vốn từ tiếng Việt cổ, ít ra từ thế kỷ XV còn sử dụng từ khác nữa.

Nguyễn Du cũng sử dụng:

Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên

Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao

(Truyện Kiều)

Nay, nói đến “nhắp” lập tức ta liên hệ đến động tác chỉ thử một chút ít chất lỏng nào đó vào đầu môi, đầu lưỡi xem hương vị thế nào, nhưng một khi đưa ra tí mồi để nhử đối tượng nào đó cũng gọi nhắp như cần câu nhắp, nhắp cá… Nhìn chung, một khi nói về màu sắc, ta thấy rằng, người Việt sử dụng hết sức đa dạng. Đôi khi cũng là từ đó nhưng ta chỉ biết rõ nghĩa khi xét trong ngữ cảnh cụ thể, thí dụ:

Công lênh chẳng quản bao lâu

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng

Nước bạc là nước gì? Bạc là tiếng Việt chuyển gốc Hán-Việt, từ bạch mà ra, có nghĩa là trắng. Vậy, nước bạc là nước trắng? Không, chính là “nước đầu nguồn đổ xuống, đục ngà ngà” - “Đại Nam quấc âm tự vị” giải thích, nói cách khác chính là… “nước lụt”. Thế nhưng tại sao không sử dụng từ “trắng/ nước trắng”? Không, một khi dùng từ “bạc” thì mới đối xứng và dẫn đến sự liên tưởng với “vàng”: vàng bạc/ bạc vàng. Rõ ràng là một sự tinh tế.

***

Về các từ chỉ màu sắc, trong cách sử dụng, không hề “rập khuôn” mà linh động biến hóa đến ngoạn mục. Khi nhà thơ Hồ Dzếnh viết trong tập truyện ngắn “Chân trời cũ” (1943): “Cái làm tôi nhớ nhất, và tôi không hiểu tại sao lại nhớ đến thế, con ngựa kim hoa trắng của ba tôi”. Một cách gọi văn vẻ, chính là tên gọi của con ngựa mà nhà văn kể: “Tôi cầm một nắm cỏ đút vào mồm con ngựa trắng, vỗ vào mớ lông bờm trắng toát của nó”. Nếu sắc lông của nó đen thui thùi lùi, cứ gọi “ngựa ô” cũng đặng, tương tự, gà lông đen người ta gọi “gà ô”:

Gà ô chân trắng, mẹ mắng cũng mua

Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy

Con gà trắng chân chì ấy, đích thị chân đen, bởi “chì” nghĩa là đen. “Môi chì: Môi thâm đen như màu chì; da chì: Nước da đen xám xám” - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895). Nếu không dùng từ “chì”, ta có thể thay đổi qua từ thâm/ môi thâm… Từ “ô” là tiếng Hán-Việt chuyển qua tiếng Việt nghĩa là đen/ đen sậm sậm, vậy với đũa đen, ngược với đũa ngà/ “trắng như ngà”, ta cũng gọi đũa ô? Không, phải gọi đũa mun. Mun là loại cây gỗ mà thịt có màu đen đậm, do đó, có thành ngữ “Đen như mun”.

Suy ra, con chó đen cũng gọi chó mun cho nhanh, gọn, lẹ? Không, phải gọi chó mực. Trong khi đó, con mèo đen lại được gọi mèo mun, còn con chó thì không, phải gọi chó mực. Có sự “phân biệt” gì đây?

Khi gọi mực/ chó mực thì mực biến âm của từ “mặc” Hán Việt là sắc đen, có thành ngữ “Đen như mực”, “Tối như mực”… Một khi những gì con gì, cây cỏ gì có yếu tố đen thì người ta thòng thêm từ mực như cá mực, cỏ mực… Kể ra cũng là điều hết sức lý thú. Không những thế, theo tôi, cái sự “éo le” này còn phải kể đến câu cửa miệng “Chó đen giữ mực”. Một câu chơi chữ tài tình khi ta biết “mực” là “đen” nhưng mực ở đây còn nhằm chỉ cái sự mực thước, mực mẹo đã đâu vào đó, thế thì cái con chó đen ấy bao giờ cũng giữ màu đen ấy. Mà, đen còn hàm chỉ sự xấu xa, đen đủi, hắc ám nên “chó đen” chẳng phải tốt lành gì, từ đó “bắt cầu” qua nghĩa bóng chê trách ai đó chứng nào tật nấy, không thể thay đổi.

Với “Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy”, nếu thích, ta còn gọi “gà nhạn”, vậy con trâu trắng trong tục ngữ “Trâu trắng mất mùa”, cũng có thể gọi “trâu nhạn”? Không, phải gọi “trâu cò”. Cắc cớ hỏi thêm ngựa trắng, vậy, cũng gọi “ngựa cò”? Không, nếu thích cứ gọi “ngựa bạch” cũng “chẳng chết thằng Tây đen” nào. Còn tóc trắng thì sao? Cách gọi hay nhất vẫn là “tóc bạc”. Một khi tóc bạc lẫn lộn với tóc xanh/ tóc đen lại chiếm phần trội hơn, ta gọi tóc gì? Tóc hoa râm mà cũng còn có cách nói khác, tôi sực nhớ đến câu vần vè này: “Tóc ánh bạc, túi ánh kim, chim ánh thép”. Xin không bình luận gì thêm.

***

Trở lại với từ bạc, vốn là từ Hán-Việt có nhiều nghĩa. Do đó, thật hết sức “ngoạn mục” khi ta thấy cách sử dụng từ bạc trong “Truyện Kiều”. Thí dụ, “Phận sao phận bạc như vôi” thì bạc ở đây hiểu theo nghĩa trắng như trong cách so sánh trắng như vôi/ bạc trắng như vôi. Nhưng nếu dùng từ “trắng” sẽ không dẫn tới sự liên tưởng nhằm ngụ ý sâu xa của sự bạc tình/ bạc bẽo/ bạc phận… Khi dùng từ “bạc” khiến ta phải nghĩ ngay đến thân phận quá nhọ, quá đen bởi đã có sẵn những từ như “bạc đen/ đen bạc”, vì thế, từ bạc đắc địa này đã tạo ra cho câu thơ có sức âm vang, ám ảnh. Ở tình huống khác, cũng vận dụng cách nói này, Nguyễn Du lại viết tài tình: “Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen” là tách riêng “bạc” và “đen” để chúng đóng vai trò nguyên nhân dẫn tới kết quả hết sức logic, hợp lý.

Không chỉ có thế, bạc trong câu “Phận sao phận bạc như vôi” còn có nghĩa là mỏng/ phận mỏng; vì thế, ở ngữ cảnh khác, cần so sánh, ta thấy từ xuất hiện từ “mỏng”: “Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn/ Khuôn xanh có biết vuông tròn mà hay”. Nếu sử dụng từ bạc: “phận bạc cánh chuồn” lại đâm ra ngớ ngẩn vì người Việt nói “bạc như vôi” nhưng so sánh với mỏng, phải là “Nghĩa nhân mỏng dính như cánh chuồn chuồn/ Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay” (ca dao)...

Cuối thế kỷ 19, khi lũ Tây thực dân mắt xanh mũi lõ xâm lược nước Nam ta, từ bạc cũng đã xuất hiện trong câu dao: “Anh ham chi bạc trắng con cò/ Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa”. “Bạc trắng/ bạc trắng con cò” lại là dùng đồng tiền làm bằng bạc sử dụng trong trao đổi, mua bán. Sau khi đã chiếm ưu thế trên chiến trường, người Pháp đã đẩy đồng tiền kẽm của triều Nguyễn “đi chỗ khác chơi”, từ đó, đồng bạc Mê-xi-cô/ Mễ Tây Cơ chính thức lưu hành. Dù đồng bạc đó có hình con ó, nhưng do hình ảnh con cò đã quá quen thuộc trong tâm thế người Việt, đã đi vào ca dao, tực ngữ hàng nghìn năm, vì thế, con ó ấy không “có cửa” chen chân, xuất hiện trong lời ăn tiếng nói. Nói chung, dù bạc/ đồng bạc làm bằng chất liệu gì, kể cả tiền giấy, với người Việt chỉ cần nói đồng/ hơi đồng thì bản thân từ này đã có sức khái quát chung: “Máu tham ngửi thấy hơi đồng là mê”.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?