Thiên tài âm nhạc George Frideric Handel - Niềm tự hào của hai quốc gia

Vào lúc 20h ngày 8/5 tới đây, đêm biểu diễn thanh xướng kịch "Messiah" của nhạc sĩ vĩ đại người Đức George Frideric Handel sẽ được các nghệ sĩ Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch TP Hồ Chí Minh thực hiện tại Nhà hát Thành phố (số 7 Công trường Lam Sơn, Quận 1, Tp HCM). Việc dàn dựng và biểu diễn vở nhạc kịch "Messiah" nằm trong dự án hợp tác với tổ chức Transposition Program của Na Uy. Nhân dịp này, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc một số nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của thiên tài âm nhạc Handel, cùng quá trình ông sáng tác nên kiệt tác "Messiah".

Sinh năm 1685 tại Hamburg (Đức) song từ năm 1712 chuyển sang sinh sống ở London (Anh) và từ năm 1727 trở thành công dân Anh nên từ hơn hai trăm năm nay, cả hai quốc gia Đức - Anh đều suy tôn Handel là nhạc sĩ vĩ đại của nước mình.

Mặc dù sinh ra không phải trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thậm chí còn "kị" âm nhạc, nhưng với năng khiếu bẩm sinh, năm 12 tuổi lại được chọn làm phụ tá cho một vị nhạc trưởng của Thánh Đường Halle, sau đó được nhận vào học trường âm nhạc ở Hamburg, khả năng của Handel càng có cơ phát lộ. Đặc biệt, năm 21 tuổi, qua Ý và được tiếp xúc với nhiều nhân vật kỳ tài về âm nhạc ở xứ sở này, Handel đã có những bước trưởng thành vượt bậc.

Trong thời gian tu nghiệp tại Ý, một trong những trung tâm âm nhạc châu Âu thời ấy, nghệ sĩ trẻ Handel đã chịu ảnh hưởng nhiều bởi âm nhạc Baroque và trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ âm nhạc Baroque. Baroque trong tiếng Pháp được dùng để chỉ một kiểu kiến trúc và trang trí theo model châu Âu thời ấy, đặc biệt là ở Ý. Với các nhà viết lịch sử âm nhạc, họ dùng cách gọi này để chỉ một thời kỳ âm nhạc đã bắt đầu trở nên tinh xảo, chuyên nghiệp. Nói "thời kỳ Baroque" đồng nghĩa với việc nói tới một thời kỳ hoàng kim trong âm nhạc. Những năm tháng này, Handel đã tung hoành sáng tác cho nhiều thể loại thanh nhạc, trong đó đáng kể nhất là opera và oratorio, những thể loại mà ông sáng tác suốt đời và đã để lại được một số kiệt tác.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật, Handel có chuyến thăm Anh. Tại đây, ông nhận được sự chào đón nồng nhiệt. Nhờ viết được một vở opera cho Nữ hoàng Anh trong vẻn vẹn 14 ngày, Handel được Nữ hoàng quý trọng và có những chế độ biệt đãi. Chính cách xử sự ấy đã khiến sau khi về Đức, hai năm sau Handel quyết định trở lại nước Anh tạm cư và 15 năm sau thì ông trở thành công dân Anh thứ thiệt. Trong vòng 15 năm sống ở Anh, Handel đã khởi lập ba công ty opera thương mại nhằm cung ứng âm nhạc opera Ý cho giới quý tộc Anh. Nhưng rồi ông phát hiện ra, công chúng mua vé vào xem không phải vì họ muốn thưởng thức âm nhạc đích thực mà chỉ để tụ tập đùa vui và để nhìn ngắm, bình luận về các ca sĩ. Từ năm 1836, Handel bắt đầu sáng tác những bản hợp xướng tiếng Anh. Và sau thành công với vở nhạc kịch "Messiah" (Đấng Cứu Thế, 1842) thì Hamdel không bao giờ trình diễn nhạc opera Ý nữa mà tập trung làm nhạc tiếng Anh thuần túy.

Một buổi hòa nhạc vở nhạc kịch "Messiah" của Handel của các nghệ sĩ Việt Nam.

Một buổi hòa nhạc vở nhạc kịch "Messiah" của Handel của các nghệ sĩ Việt Nam.

Di sản âm nhạc mà Handel để lại khá đồ sộ. Theo những gì người ta thống kê được thì sinh thời, Handel đã sáng tác hơn 42 vở opera, 20 bản oratorio, hơn 120 bản cantata, tam tấu và song tấu, nhiều bản aria, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo, 16 bản concerto organ…trong đó, nổi tiếng nhất vẫn là vở nhạc kịch "Messiah" - một trong những bài Thánh Ca nổi tiếng mà chúng ta thường nghe trong mùa Giáng Sinh. Các trích đoạn từ vở nhạc kịch này như hợp xướng "Halleluja", "I know that my Redeemer liveth"... thường xuyên được biểu diễn như những tác phẩm độc lập. Các nhà nghiên cứu âm nhạc đã không hề quá lời khi nhận định rằng, trong hơn 250 năm qua, không năm nào là không có ít nhất một lần tác phẩm này được trình diễn trong bầu không khí trang trọng.

Xin được kể đôi chút về quá trình Handel sáng tác nên vở nhạc kịch bất hủ này: Có thể nói, sau khi bị đột quị vào năm 1837, Handel trở nên quan tâm nhiều hơn đến đề tài tôn giáo. Đặc biệt, từ năm 1840, khi Handel bước sang tuổi 55, ông dành thời giờ nhiều cho việc sáng tác các bản Thánh ca.

Thời kỳ này, cuộc sống của Handel rất túng bấn. Ông mắc nợ như Chúa Chổm, phải thường xuyên đối phó với các chủ nợ. Đã thế, bệnh khớp dai dẳng khiến tâm trạng của ông ngày càng u ám. Mùa hè năm 1741, Handel qua chơi Dublin, thủ đô của Ireland theo lời mời của Quận công xứ Devenshire. Một đêm nọ, quá chán chường thất vọng, nhạc sĩ đi lang thang suốt đêm trên các con phố vắng. Đến sáng, khi trở về căn phòng tồi tàn của mình, ông thấy trên bàn xuất hiện một phong thư dày. Thì ra, đó là thư của một người Anh tên gọi Charles Jennens gửi đến. Thư không có nội dung ngoài một xấp giấy viết kín những câu trích trong Kinh Thánh, cốt để những người không tin vào thần tính của Chúa Jesus thấy rằng Chúa Jesus là con của Đức Chúa Trời, rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại, là vị "vua của muôn vua" trước sau sẽ trở lại trần gian.

Mặc dù quá mệt mỏi sau chuyến lang thang đi bộ suốt đêm, song đến khi lên giường nằm rồi, không hiểu sao những dòng chữ trong cuốn Kinh Thánh mà ông Charles Jennens trích gửi ông cứ như hiện rõ mồn một trước mắt Handel, ám ảnh tâm trí người nhạc sĩ. Những câu: "Đức Chúa Trời phán: Hãy an ủi, hãy an ủi dân ta… Dân đi trong nơi tối tăm đã nhìn thấy ánh sáng lớn…Vì có một Con Trẻ đã sinh ra cho chúng ta… Sáng Danh Thiên Chúa trên các từng trời rất cao… Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia! …" cứ văng vẳng trong ông. Handel ngồi dậy, bước ra khỏi giường, tới bên chiếc đàn dương cầm. Một dòng nhạc hào sảng cứ miên man chảy mãi, chảy mãi…khiến ông không thể ngừng tay bút. Ông viết cả ngày lẫn đêm, có lúc quên cả ăn uống, nghỉ ngơi, từ chối tiếp bất kỳ vị khách nào. Cứ vậy, trong suốt 23 ngày sáng tác như lên đồng, Handel đã hoàn tất vở nhạc kịch vĩ đại. Bản thảo gốc của vở nhạc kịch hiện vẫn còn được lưu giữ: Nó nhòe nhoẹt đầy vết mực.

Vở nhạc kịch gồm ba phần. Phần thứ nhất mô tả sự giáng trần của Chúa Cứu Thế. Phần thứ hai nói đến sự hy sinh của Ngài để cứu rỗi nhân loại và phần cuối nói về sự "sống lại" của Chúa khi Ngài trở lại trần gian để làm vua. Tác phẩm này được gọi là "Messiah" - một trong những danh hiệu của Chúa Cứu Thế.

Vở nhạc kịch "Messiah" được công diễn lần đầu tiên vào năm 1742 tại Dublin, sau đó tại London. Trái với sự thành công đáng kể ở Dublin, khán thính giả ở London tỏ ra hờ hững với "Messiah". Tới năm 1850, vở nhạc kịch được tổ chức công diễn nhằm gây quỹ cho Bệnh viện Foundling và buổi biểu diễn thực sự thành công. Kể từ đây, tiếng tăm của "Messiah" ngày một thêm lan tỏa. Từ đó cho tới khi Handel qua đời, mỗi năm bệnh viện này đều tổ chức công diễn "Messiah" một lần. Trước khi tạ thế, tác giả của "Messiah" đã viết di chúc nói ông để lại một bản chép tay vở nhạc kịch tặng cho Bệnh viện Foundling.

Tháng 8 năm 1750, trên chuyến xe ngựa từ Hà Lan về Anh, Handel đã bị chấn thương nặng sau một vụ tai nạn. Năm 1851, ông gần như sống trong cảnh mù lòa. Thiên tài âm nhạc George Frideric Handel đã qua đời ngày 14/4/1759, hưởng thọ 74 tuổi. Tang lễ của ông được cử hành trọng thể, với sự tham dự của hơn ba ngàn người. Thi hài ông được an táng tại Điện Westminster, là nơi được dành cho các bậc vua chúa, vĩ nhân của nước Anh.

Sinh thời, Handel chưa một lần kết hôn. Cuộc sống riêng tư ít được ông hé lộ cùng ai. Trước khi mất, ông viết di chúc dành phần lớn tài sản cho người cháu gái Johanna, phần còn lại cho một số thành viên trong họ hàng và một phần nữa cho bạn hữu và các tổ chức từ thiện.

George Frideric Handel được ghi nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của mọi thời đại. Ông được các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ nể trọng. Chuyện kể rằng, khi đến Halle, Bach chỉ có một ước muốn tìm gặp Handel, nhưng không thành công. Thiên tài âm nhạc Mozart thì nhận xét: "Handel hiểu biết cách khơi mở cảm xúc tốt hơn hết thảy chúng ta. Một khi chọn đúng thời điểm, tác động của ông mạnh như sấm sét". Còn nhạc sĩ vĩ đại Beethoven thì luôn coi Handel là bậc thầy: "Ông là bậc thầy của tất cả chúng ta, là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất. Tôi phải ngả mũ cúi chào và cúi quỳ trước phần mộ ông"

Tiến Thành

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.