Với chị, tìm được một gương mặt diễn viên phù hợp với vai diễn đã chiếm đến 50% sự thành công của phim. Chính vì thế, mặc dù bước vào nghề khá muộn, khi đã là một kỹ sư xây dựng, nhưng sự cẩn trọng với nghề của chị đã mang đến cho làng điện ảnh một cái tên Nhuệ Giang với những bộ phim đáng nhớ...
- Thưa đạo diễn Nhuệ Giang, sau một loạt giải thưởng tại các Liên hoan Phim, chị dừng lại để làm phim truyền hình và gần đây, chị tiết lộ đang chuẩn bị bấm máy phim nhựa về đề tài thiếu nhi. Liệu sự trở lại này có đánh dấu một khởi đầu mới trên chặng đường làm phim của đạo diễn Nhuệ Giang?
+ Tôi nghĩ, không chỉ riêng tôi mà bất cứ đạo diễn nào cũng muốn mỗi bộ phim là một sự khởi đầu mới sẽ mang lại thành công cho mình. Lần này, tôi đầu tư vào làm một bộ phim thiếu nhi mang tên "Tâm hồn mẹ", dựa trên tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
Đây là một trong những bộ phim nhựa hiếm hoi làm về đề tài thiếu nhi. Tôi thích cái tứ của truyện ngắn này, câu chuyện chỉ đơn giản xoay quanh cuộc sống của hai đứa trẻ, một cậu bé mồ côi mẹ và một cô bé có mẹ nhưng thiếu sự quan tâm yêu thương của tình mẫu tử. Vô tình, cô bé ấy đã bộc lộ những phẩm chất thường thấy ở một người mẹ, đó là sự bao bọc che chở, sự quan tâm chia sẻ và tấm lòng hết mực lo lắng yêu thương cho người bạn nhỏ của mình.
Trong khi người lớn mải mê lao vào guồng quay của cuộc sống hiện đại, xô bồ thì tâm hồn người mẹ trong đứa trẻ thơ ấy cứ hun đúc và lớn dần lên mạnh mẽ. Đó là điều khiến người lớn chúng ta phải suy nghĩ lại…
- Năm 2002, bộ phim "Thung lũng hoang vắng" đã đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp đạo diễn của chị. Chị còn nhớ mình đã "gặp" được kịch bản này như thế nào không?
+ Tình cờ tôi đọc được một chi tiết trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Lập, đấy là khi một cô bé học sinh bắt gặp cảnh yêu đương của cô giáo và một người con trai mình thích. Đây là một tình huống khá riêng biệt. Tôi muốn thông qua đó để nói lên một xu hướng của xã hội cũng như con người trong thời hiện đại. Đây cũng là một sự gặp gỡ vô cùng tình cờ may mắn và trong suốt thời gian làm phim này, cho dù vất vả nhưng tôi đã rất hứng thú vì nó đúng "chất" của mình.
Vợ chồng đạo diễn Nhuệ Giang- Thanh Vân.
- Phim này quay ở miền núi với nhiều cảnh trèo đèo, lội suối rất vất vả. Các anh chị làm phim đã phải khắc phục như thế nào?
+ Phim nói về việc "cõng chữ lên núi" của các cô giáo miền xuôi với bao hy sinh thầm lặng. Họ bắt đầu đầy khó khăn với cuộc sống của những giáo viên vùng rẻo cao. Phim gợi lên những xúc cảm đẹp mà buồn trong những cơn mưa rừng triền miên, tĩnh lặng đến buồn tẻ, rợn người. Ba con người, dũng cảm hay tự nguyện đã chung lưng gánh vác nhiệm vụ gieo chữ một cách trầy trật và khó nhọc.
Họ bấu víu vào nhau để tồn tại, để cầm phấn, cầm cả sự cô đơn và những niềm cay đắng. Câu chuyện như một bài thơ đậm tính nhân văn về sự hy sinh những người thầy trên vùng cao hẻo lánh để đem cái chữ của nền văn minh đến cho bao em thơ. Những thước phim có vẻ bình yên nhưng để lại nhiều giông bão trong lòng khán giả khi nó khép lại.
- Xem phim, tôi thấy có nhiều cảnh quay đẹp và chân thực. Chị và ê kíp có mất nhiều thời gian để lựa chọn bối cảnh không?
+ Nếu để ý, bạn sẽ thấy rằng, thiên nhiên là một "nhân vật" khá quan trọng trong phim của tôi. Để thực hiện bộ phim này, tôi và chồng tôi (đạo diễn Thanh Vân), phó đạo diễn của phim đã phải vất vả lặn lội nhiều tháng trời lên tận bản Tả Giàng Phình ở Tây Bắc, xuống chân núi Phanxipăng, rồi lại ngược cả ngàn cây số vào rừng quốc gia Cúc Phương tìm cái gam màu "lạnh" cho hợp với nội dung bộ phim.
Suốt mấy tháng trời, thực đơn chỉ có su su và thịt luộc. Trần mình trong mưa dầm, gió bấc, nắng hanh... Khổ nhất là chúng tôi chọn bối cảnh trường học nằm trên một đỉnh núi khá cao và chưa có điện, nên đoàn đã phải thuê xe tải chở máy phát điện lên.
Tôi nghĩ, nếu anh lái xe không nhiệt tình mà nói rằng: "Tôi không chở đâu vì quá nguy hiểm" thì tôi cũng chỉ biết… chấp nhận chứ cũng chả trách người ta được. Thế mà phải thuê đến lần thứ 3 thì cái máy nổ mới chịu chạy dài hơi cho.
- Nghe nói, lúc làm "Thung lũng hoang vắng", nhà quay phim Lý Thái Dũng đã nhận xét: "Chị là người chịu khó nhưng rất khó chịu"?
+ Đó là khi tôi nhất định quay những cảnh "nóng bỏng" tả cách cô gái trong phim đã yêu hết mình như thế nào để nhấn mạnh nỗi đau sau này của cô. Mà rõ ràng là nó có hiệu quả thật! Thực ra, cái gian khổ và chịu khó chỉ là rất nhỏ, cái quan trọng nhất là hiệu quả mình muốn đạt được trong ý tưởng của mình. Khi ý tưởng đã "chạm" được vào mình thì tôi thấy hạnh phúc lắm, mọi gian khổ khác tôi đều có thể vượt qua hết.
- Trong Điện ảnh Việt Nam, đạo diễn là một nghề không có nhiều phụ nữ tham gia, bản thân chị thấy mình có mảnh "đất" đủ rộng cho nghề này chứ?
+ Công việc đạo diễn là một công việc vất vả, nữ đạo diễn còn gặp nhiều vất vả hơn. Khi làm phim thì lúc nào cũng ở trong tình trạng nước sôi lửa bỏng vì ngoài việc dành hết thời gian cho phim, người ta còn phải lo toan những chuyện khác. Phụ nữ còn thêm gánh nặng gia đình, con cái.
Tôi không có con nên có thể dành toàn bộ tâm huyết cho công việc, còn những người khác, tôi nghĩ là họ phải hy sinh một trong hai thứ: công việc hoặc gia đình. Bởi thời gian làm việc đã chiếm trọn mười mấy tiếng một ngày, trở về nhà là lúc sức lực đã kiệt quệ. Khổ tâm lắm. Ngoài ra còn phải có sức khỏe, vì cái nghề này nó đòi hỏi phải nỗ lực hơn những nghề khác.
Phim là sự kết hợp của rất nhiều thứ và lại tiêu tốn rất nhiều tiền nên luôn căng thẳng. Một khó khăn khác là theo "tập quán" của cánh làm phim miền Bắc thì "lính" cũng to ngang với "quan", trong một đoàn phim luôn có rất nhiều "kiêu binh", nếu đạo diễn có kiểu "vênh váo" của đạo diễn thì những thành phần khác cũng có kiểu "vênh váo" của họ.
Chúng tôi vẫn truyền nhau những câu đùa: "Đạo cụ là cụ đạo diễn". Nhiều đạo diễn khi đi làm rất cô đơn vì bị cả đoàn phim chống lại. Tôi thì không đến nỗi rơi vào trường hợp đó. Tôi nghĩ, trong giới nghệ sĩ, người ta rất tinh, nếu họ nhìn thấy ở mình năng lực, sự cẩn trọng, lương tâm trong sáng và không coi tiền là quan trọng thì họ sẽ phục. Ai cũng bảo tôi khó tính nhưng khi phim đạt được hiệu quả thì họ lại vui. Cái gì cũng có giá của nó.
- Chị là "con gái rượu" của đạo diễn nổi tiếng Phạm Văn Khoa, cha đẻ của các bộ phim như "Sau cơn bão", "Kén rể", "Khôn dại", "Chị Dậu", “Làng Vũ Đại ngày ấy"… Những kỷ niệm về cha mình mà chị còn nhớ là gì?
+ Gia đình tôi thường có nhiều người làm điện ảnh lui tới, bàn bạc về phim. Nhà khá chật, tôi hay ngồi ở góc phòng để học, nhưng những đợt tuyển diễn viên của bố khiến tôi không sao chú tâm vào sách vở được. Còn nhớ, khi tôi đã lớn, bố làm phim "Chị Dậu", có rất nhiều người viết thư đến xin đảm nhận vai chị Dậu nhưng ông lại chọn Lê Vân.
Nhiều người không đồng ý với quyết định đó vì Lê Vân rất đẹp, mà trong truyện thì chị Dậu chỉ là người đàn bà khỏe mạnh và có duyên. Đến nhân vật Thị Nở, bố lại chọn cô Đức Lưu, một người đẹp ít ai sánh kịp. Có vẻ phi lý khi để một người đẹp như vậy vào vai một cô nàng xấu "ma chê quỷ hờn", song theo bố tôi nói thì ông tôn trọng thị hiếu khán giả vì ít người đến rạp xem phim để nhằm xem một người không đẹp, chứ chưa muốn nói là xấu xí.
Điều quan trọng là bố tôi thấy được vẻ đẹp về diễn xuất của Lê Vân cũng như Đức Lưu trong hai vai diễn đó. Bố tôi thích hoạt động xã hội và ông dành thời gian cho công việc xã hội nhiều hơn gia đình. Dường như ông không bao giờ ở nhà tới một ngày, trừ khi ông phải viết lách hay bàn bạc kịch bản với đồng nghiệp. Hồi tôi muốn thi vào trường điện ảnh, ông phân tích cho tôi kỹ càng về nghề đạo diễn và không muốn con theo ngành này.
Tuy nhiên, ông vẫn tôn trọng quyết định của tôi. Bố tôi là người làm việc không mệt mỏi, ngoài 70 tuổi ông vẫn rong ruổi theo các đoàn làm phim. Năm 74 tuổi, ông bị bệnh nặng phải nằm liệt giường, nhưng trong thời gian đó, ông vẫn viết một số sách về điện ảnh và hồi ký. Có thể nói, cả cuộc đời ông đã dành cho nghệ thuật, đó là điều tôi tự hào nhất về cha mình.
- Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!