Đắt như tôm tươi
Tổ chức tư vấn nổi tiếng và rất có uy tín SIPRI năm nào cũng cập nhật thông tin về chi phí quân sự và các diễn biến về xuất nhập khẩu vũ khí trên quy mô toàn cầu. Tính toán của SIPRI dựa trên các dữ liệu công khai và thường không mấy khi trùng khít với những thông tin chính thức của các quốc gia. Hiện nay kho dữ liệu của SIPRI có thông tin từ năm 1950 về mua bán vũ khí, khí tài của các nước trên thế giới. Và mặc dù quá trình thu thập thông tin được tiến hành liên tục nhưng các báo cáo về xu hướng buôn bán vũ khí thường được xây dựng trên cơ sở các số liệu cho từng giai đoạn năm một. Những tính toán của SIPRI được quy đổi bằng USD theo thời giá ở thời điểm năm 1990.
Báo cáo mới nhất của SIPRI, trong giai đoạn 5 năm (2008-2012), Mỹ đã xuất khẩu 40,495 tỉ USD. Các nước lái súng hàng đầu tiếp theo là Nga (35,184 tỉ USD), Đức ( 9,919 tỉ USD) và Pháp (8,942 tỉ USD).
Trung Quốc đã vượt lên trên Vương quốc Anh về thị phần xuất khẩu vũ khí (6,462 tỉ USD). Đây là lần đầu tiên kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, “hòn đảo sương mù” đã bị loại ra khỏi tốp 5 lái súng lớn nhất thế giới và nhường vị trí của mình cho một quốc gia châu Á.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2008 - 2012, lượng vũ khí thông thường được tung ra thị trường quốc tế đã tăng thêm 17% so với giai đoạn 5 năm trước đó (2003 - 2007). Gần một nửa số vũ khí nhập khẩu (47%) trong giai đoạn 2008 - 2012 là thuộc về các nước châu Á và châu Đại Dương. Trong số 5 quốc gia nhập khẩu vũ khí hàng đầu có Ấn Độ (chiếm 12% tổng lượng vũ khí bán ra trên thế giới), Trung Quốc (6%), Pakistan (5%), Hàn Quốc (5%) và Singapore (4%). Gần 7% lượng vũ khí được mua vào thuộc về các quốc gia nằm trong vùng Vịnh Persik với chủ hàng chính yếu là Washington.
Trong báo cáo của SIPRI đã dẫn ra nhiều số liệu liên quan tới nhiều quốc gia riêng lẻ. Theo đó, 71% lượng vũ khí được bán cho Syria trong giai đoạn 2008-2012 là từ nguồn Moskva. Cũng chính nước Nga trong giai đoạn này đã bán tới 66% lượng vũ khí do Venezuela mua về…
Gương mặt tay chơi
Theo nhận định của các chuyên gia, xu thế gia tăng lượng vũ khí “made in China” trên thị trường quốc tế đã xuất hiện từ vài năm trước. Ngay từ năm 2012 khi công bố báo cáo thường niên, SIPRI nhận xét rằng, Trung Quốc đã khá mau lẹ rời bỏ những vị trí đầu tiên trong danh sách các quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều và chuyển mạnh thành người đi bán vũ khí. Nếu trong giai đoạn 2003-2007, Bắc Kinh đã mua khoảng 14,09 tỉ USD vũ khí và là nhà nhập khẩu vũ khí hàng đầu thì trong giai đoạn 2008-2012, đã giảm xuống gần một nửa lượng vũ khí mua vào và chỉ bỏ ra cho mục đích này khoảng 7,5 tỉ USD (tương đương với 24,75 và 13,2 tỉ USD tính theo thời giá ở năm 2012)…
Việc giảm lượng vũ khí nhập khẩu của Bắc Kinh có thể lý giải bằng bước nhảy vọt về chất lượng sản xuất của nền công nghiệp quốc phòng ở nước này, được bắt đầu từ vài năm trước đây. Hiện nay, chiến lược chủ yếu trong những nỗ lực tự sản xuất vũ khí của Trung Quốc trong thực tế vẫn là sao chép các mẫu mã của nước ngoài, chủ yếu là học theo vũ khí Nga. Sau nhiều năm đi theo con đường này, các xí nghiệp quốc phòng của Trung Quốc đã tích cóp được những kinh nghiệm nhất định, cho phép xuất xưởng một số loại vũ khí có chất lượng khả dĩ với giá thành rẻ hơn hẳn nên rất được ưa chuộng ở các quốc gia đang phát triển với ngân sách quân sự không mấy ổn định.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, dù đã rất cố gắng nhưng Bắc Kinh vẫn chưa làm chủ được hàng loạt những kỹ nghệ quan trọng, trước hết là sản xuất những động cơ máy bay tin cậy và công suất cao.
Trong giai đoạn 2003-2007, Trung Quốc đã xuất khẩu tới 2,5 tỉ USD vũ khí (tương đương 4,4 tỉ tính theo thời giá năm 2012). Trong khi đó, cũng trong giai đoạn này, Mỹ, Nga và Đức đã xuất khẩu vũ khí ở mức 34,9; 27,6 và 10,8 tỉ USD. Và trong danh mục lái súng hàng đầu thế giới ở giai đoạn 2003-2007, Trung Quốc chỉ được xếp ở vị trí thứ 8, đứng sau cả Italia và Hà Lan. Thế nhưng, trong giai đoạn 5 năm tiếp theo, Bắc Kinh đã lọt được vào top 5 với 6,5 tỉ USD xuất khẩu vũ khí (tương đương 11,4 tỉ USD tính theo thời giá năm 2012).
Sự gia tăng xuất khẩu vũ khí của Bắc Kinh trong giai đoạn 2008-2012 ở mức 162%, đã được tạo nên nhờ những hợp đồng lớn bán sang thị trường Pakistan. Islamabad gần như là nhập khẩu tất cả các loại vũ khí, khí tài do Trung Quốc sản xuất, từ bom ném từ máy bay và các loại radar tới các máy bay tiêm kích và tàu chiến. Cụ thể, quân chủng không quân của Pakistan đã nhận được 61 máy bay tiêm kích JF-17, 27 máy bay huấn luyện K-8, ba tàu chiến F-22P và 298 xe tăng MBT-2000 (trong giai đoạn từ năm 2001 tới năm 2012)… Nhìn chung, trong giai đoạn 5 năm vừa qua, Pakistan đã mua già nửa (55%) lượng vũ khí xuất khẩu của Bắc Kinh (khoảng 3,5 tỉ USD)…
Tuy nhiên, Islamabad không phải là khách hàng béo bở duy nhất của Bắc Kinh trong lĩnh vực vũ khí thông thường. Ngoài Pakistan, còn có tới gần 40 quốc gia khác là bạn hàng quen thuộc trên thị trường vũ khí của Trung Quốc, thí dụ như Algérie, Argentina, Bolivia, Venezuela, Campuchia, Chad, Ghana, Iran, Rwanda, Zambia…
Những mặt hàng được ưa chuộng nhất trên thị trường quốc tế trong số các loại vũ khí xuất khẩu của Bắc Kinh có các loại máy bay, xe bọc thép và tàu chiến. Tính tổng thể, chỉ riêng về ba loại hàng xuất khẩu này, Bắc Kinh trong giai đoạn 5 năm (2008 - 2012) đã thu về 5,2 tỉ USD (9,2 tỉ USD tính theo thời giá năm 2012). Khách hàng chủ yếu mua từ Trung Quốc các máy bay tiêm kích F-7MG (biến tấu từ máy bay MiG 21 của Nga) và JF-17 Thunder, các máy bay thực tập chiến đấu K-8 Karakorum, máy bay trực thăng Z-9 (phiên bản từ loại máy bay châu Âu AS365/AS565), các máy bay vận tải Y-12, các loại xe tăng Type-59 (biến tấu từ T-54A) và Type 90, cũng như các xe bọc thép WZ-501, ZFB-05 và WZ-551…
Máy bay tiêm kích JF-17 của Pakisstan.
Người mừng kẻ lo
Không phải quốc gia nào trên thế giới cũng cảm thấy hồ hởi trước xu thế vươn lên của Trung Quốc trên thị trường vũ khí quốc tế. Hiện nay, với lý do trừng phạt những vi phạm trong lĩnh vực nhân quyền, phương Tây vẫn tiếp tục duy trì xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc những công nghệ mang tính năng kép và những trang thiết bị hiện đại. Vẫn tiếp tục vang lên những lời buộc tội về việc các cơ quan tình báo của Trung Quốc luôn theo dõi chặt chẽ hoạt động của các xí nghiệp quốc phòng trên khắp thế giới để mang về bản sao chép một cách bất hợp pháp các mẫu vũ khí tiên tiến.
Theo tờ Die Zeit, máy bay tiêm kích tàng hình Shenyang J-31 của Trung Quốc rất giống với máy bay F-22 do Hãng Lockheed - Martin của Mỹ sản xuất. Loại xe jeep của Hãng Norinco, được trưng bày tại triển lãm vũ khí quốc tế ở Abu Dabi trông nhang nhác xe Hammer của Mỹ,, còn loại máy bay trực thăng quân sự hiện đang được thiết kế ở Trung Quốc lại gợi nhớ tới máy bay Eurocopter Tiger của châu Âu… Bắc Kinh cũng nhận thức rất rõ quan điểm không thân thiện của phương Tây trong vấn đề sản xuất vũ khí. Không ngẫu nhiên mà theo Tân Hoa Xã, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 18/3 đã ngay lập tức lên tiếng tuyên bố rằng, nước này luôn thể hiện quan điểm có trách nhiệm và thận trọng trong vấn đề xuất khẩu vũ khí…
Cũng phải nói rằng, Trung Quốc hiện nay vẫn duy trì một ngân sách quân sự khá ấn tượng. Theo Tân Hoa Xã, trong năm tài chính 2013, Bắc Kinh chi cho các mục đích quân sự tới 720,3 tỉ nhân dân tệ (114,3 tỉ USD). So với năm tài chính 2012, chi phí quân sự của Trung Quốc đã tăng thêm 10,7% (850,6 tỉ nhân dân tệ). Trong nhiều năm liền, chi phí quân sự ở Trung Quốc luôn chiếm tới 1,6% GDP.
Theo các chuyên gia của tổ chức tư vấn ICD Research, tới năm 2017, chi phí quân sự của Bắc Kinh có thể sẽ lên tới 174,9 tỉ USD. Hiện nay, một số chuyên gia cho rằng, chỉ cần tới năm 2015, ngân sách quân sự Trung Quốc đã có thể vượt qua ngưỡng 250 tỉ USD. Cụ thể, trong 5 năm tới, Bắc Kinh dự định sẽ dành ra gần 800 tỉ USD để mua sắm các loại vũ khí, khí tài mới