Thi sĩ Paul Verlaine: Sống buông thả, viết kỹ càng

Paul Verlaine là một trong những nhà thơ lớn nhất và nổi tiếng nhất của nước Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Là người sáng lập trường phái thơ Tượng trưng, Paul Verlaine có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của thi ca hiện đại Pháp cũng như tới một số tác gia trong phong trào Thơ Mới ở Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945. Ông cũng được biết nhiều bởi "mối tình" đầy tai tiếng với nam thi sĩ Rimbaud

Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết trong bài "Tình trai": "Tôi nhớ Rimbaud với Varlaine/ Hai chàng thi sĩ choáng hơi men/ Say thơ xa lạ, mê tình bạn/ Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen". Cách đây ít tháng, bộ phim "Total Eclipse" - một bộ phim giả tưởng nói về mối quan hệ đồng tính giữa Rimbaud và Verlaine cũng đã được công chiếu tại nhiều nước trên thế giới...

Paul Verlaine sinh năm 1844 tại Metz - một thành phố nằm ở  phía bắc nước Pháp. Bố ông là một sĩ quan công binh. Mẹ xuất thân trong một gia đình điền chủ. Năm Verlaine lên 7 tuổi, gia đình ông chuyển về Paris .

Năng khiếu thi ca của Verlaine bộc lộ từ rất sớm. Năm 14 tuổi, sau khi đọc tập thơ "Ác hoa" của Baudelaire, cậu bé đã nảy hứng sáng tác những bài thơ nho nhỏ. Cùng năm này, sau khi hoàn thành tập trường ca "Cái chết", chàng thi sĩ nhỏ tuổi đã đánh bạo gửi tập trường ca cho đại thi hào Victor Hugo. Năm 1862, Verlaine theo học tại khoa Luật Trường đại học Sorbonne, nhưng vốn bản tính phóng túng, chỉ một thời gian sau, ông bỏ học.

Tháng 10/1863, Verlaine xin vào làm việc tại Tòa thị chính Paris . Thời gian này ông thường xuyên lui tới các quán cà phê văn chương và tỏ ra rất ngưỡng mộ các nhà thơ thuộc trường phái Thi Sơn (parnasse). Năm 1866, Versailles cho in tập thơ đầu tay "Những bài thơ saturrniens" ảnh hưởng nặng hình thức thơ của phái Thi Sơn. Năm 1867, Verlaine sang Brussele (Bỉ) gặp Victor Hugo. Ba năm sau, ông cho in tập "Bài ca tốt lành" tặng người yêu Mathilde Maute de Fleurville. Công xã Paris nổ ra (năm 1871), Verlaine hồ hởi chào đón. Khi quân chính phủ trở lại Versailles , Verlaine buộc phải trốn đến miền Bắc nước Pháp ở với gia đình. Chiến tranh Pháp - Phổ nổ ra, Verlaine lại tiếp tục cuộc sống chui lủi của kẻ trốn quân dịch. Vì việc này mà ông từng bị tống giam một thời gian.

Ngay từ những năm đầu của tuổi thanh niên, Verlaine đã thường xuyên sa đà vào các cuộc tụ bạ, chè chén. Ông dường như triền miên chìm ngập trong những trận say xỉn.

Mặc dù đã kết hôn với Mathilde Maute de Fleurville từ năm 1870, song việc ấy không cản trở Verlaine thể hiện tình "đồng giới" say đắm với Rimbaud, một thần đồng thơ Pháp. Mọi sự khởi đầu bằng tình tiết: Năm 1871, Arthur Rimbaud - khi ấy mới 17 tuổi - gửi một số bản thảo thơ của mình cho Verlaine thẩm định (trong đó có cả tập "Con tàu say" trứ danh). Sửng sốt trước những khám phá mới mẻ, bất ngờ của tác giả trẻ, Verlaine đã viết thư mời Rimbaud tới nhà mình chơi. Đây là bước khởi đầu cho một cuộc tình nóng bỏng từng bị thiên hạ đàm tiếu và thể hiện thái độ khinh ghét.

Có thể nói, việc Rimbaud tới Paris chung sống với Verlaine đã khiến cuộc sống gia đình của Verlaine bị xáo trộn mạnh. Các thành viên trong gia đình Verlaine dường như không ai là có thiện cảm với con người trẻ tuổi đi đứng khệnh khạng, nói năng cục cằn như vậy. Cực chẳng đã, Verlaine phải đưa "ông bạn vàng" của mình đến "sơ tán" tại nhà một người khác.

Từ đó là những tháng ngày Verlaine thường xuyên vắng nhà. Ông dường như lãng quên thiên chức làm chồng với  Mathilde Maute de Fleurville, suốt ngày say sưa với Rimbaud. Mặc dù "khi tỉnh rượu, lúc tàn canh", Verlaine luôn thề thốt với vợ là ông chỉ yêu mình bà, song khi cơn say ập đến, ông thường xuyên có những lời nói, hành động lăng mạ vợ. Thậm chí, có lần, sau khi xông vào đánh đập vợ, ông còn ném cả đứa con trai còn đang thời kỳ bế ẵm của mình xuống đất.

Paul Verlaine và Arthur Rimbaud thuở còn mặn nồng "tình trai".
Paul Verlaine và Arthur Rimbaud thuở còn mặn nồng "tình trai".

Mối "tình trai" giữa hai nhà thơ danh tiếng của nước Pháp hiển nhiên không thể qua mắt được bàn dân thiên hạ. Để trốn tránh búa rìu dư luận, họ đã đưa nhau đi du lịch nước ngoài. Đây chính là quãng thời gian Verlaine sáng tác nên những bài thơ hay nhất của đời mình.

Cùng là đệ tử của... ma men, trong suốt hai năm ngao du một loạt nước châu Âu, công việc chính của cả Rimbaud và Verlaine vẫn là viết, dạy tiếng Pháp, hút thuốc, uống rượu và... gây gổ với thiên hạ. Gây gổ chán, họ quay sang gây gổ với nhau. Đã có lúc Rimbaud phải than phiền về Verlaine: "Đây là người không thể sống chung được". Còn Verlaine, mặc dù từng miêu tả Rimbaud như "một mặt trời cháy bỏng trong tôi và không thể dứt bỏ", song trong cơn điên cũng đã phải gay gắt nhận định "Rimbaud không phải là một con người, mà là một quỷ sứ".

Năm 1873, Verlaine quyết định một mình đến Brussels (Bỉ), bỏ mặc Rimbaud ở lại London . Rimbaud đã viết thư khẩn nài Verlaine, với những câu đáng ra chỉ có thể xuất phát từ một người... phụ nữ: "Anh nghĩ là đi với người khác, đời anh sẽ hạnh phúc hơn ư?", và "Chỉ có sống cùng tôi, anh mới được tự do...".

Mùa hè 1873, Verlaine và Rimbaud gặp lại nhau tại Brussels . Nỗi vui đoàn tụ vừa tan, hai người đã nhanh chóng lao vào một cuộc cãi vã. Verlaine vốn tính khí rất nóng nảy (ngoài việc thường xuyên thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với vợ như đã kể trên, ông còn có lần bị giam một tháng vì tội bóp cổ và dùng dao... dọa mẹ đẻ), ông đã lấy súng bắn Rimbaud bị thương ở cổ tay trái. Vì sự cố này, Verlaine đã bị kết án 2 năm tù. Trong thời gian sống trong nhà giam, Verlaine đã sáng tác tập "Khúc lãng mạn không lời", trong đó có những câu đầy xao xác dành tặng Rimbaud: "Này là trái, là hoa, là lá, là cành/ Là trái tim tôi thổn thức chỉ vì em".

Ở tuổi 20, Rimbaud ngừng làm thơ. Thay vào đó, ông dành thời gian đi du lịch khắp thế giới. Ông từng tham gia vào các phi vụ buôn cà phê, vũ khí và đã chết năm 37 tuổi tại một nhà thương làm phúc ở Marseille, sau khi bị cắt cụt chân phải vì căn bệnh ung thư xương.

Về phần Verlaine, sau khi rời xa Rimbaud, liên tiếp các bất hạnh ập đến với ông. Tháng 4/1874, mặc dù Verlaine vẫn đang trong thời gian thụ án, song thể theo nguyện vọng của vợ ông, Tòa án Paris đã quyết định cho vợ chồng ông được ly hôn. Sau khi Verlaine mãn hạn tù trở về, bị gia đình từ chối, ông sang Anh kiếm sống bằng nghề gia sư (dạy tiếng Pháp, dạy vẽ).

Năm 1877, Verlaine trở lại Pháp. Ông tiếp tục sa vào con đường rượu chè. Thời gian này, Verlaine "cặp" với một nam sinh viên tên là Lucien Leatinois - người trước đấy đã từng đồng hành với ông trong một số chuyến đi xa.

Năm 1881, Verlaine cho xuất bản tập "Đạo lý". Năm 1884, ông cho ra mắt bạn đọc tập "Xưa kia và mới đây" và tới năm 1889 là tập "Những nhà thơ bị nguyền rủa". Không biết có phải với một số thi nhân, nỗi đau đã làm họ nảy nở thiên tài, chỉ biết là, tập "Khúc lãng mạn không lời" của Verlaine được coi như tuyên ngôn của trường phái Tượng trưng. Và năm 1894, ở Pháp, Verlaine được bầu chọn là "Ông hoàng của các nhà thơ".

Sinh thời, Verlaine luôn được xem là người có lối sông buông thả, song trong sáng tác, ông lại nổi tiếng là người kỹ tính, "chưa từng bao giờ viết một dòng thơ dở" - như nhận định của nhà văn Graham Robb. Thơ ông cũng rất giàu nhạc tính. Chẳng thế mà các nhà nghiên cứu văn học đã phải đưa ra nhận xét: "Từ Baudelaire tới Verlaine... có mối liên hệ chặt chẽ giữa thơ ca và âm nhạc".

Những năm cuối đời, Verlaine luôn trong tình cảnh đau ốm, phải thường xuyên nhập viện. Cuộc đời Verlaine là một chuỗi say - tỉnh, tỉnh - say kèm với đó là không ít ăn năn, hối hận về những năm tháng sống buông thả. Không ít lần ông thể hiện sự tiếc nuối vì hoàn cảnh túng thiếu đã phải bán đi một số bản thảo thơ của Rimbaud. Nhưng rồi, chứng nào tật nấy, Verlaine lại thả mình vào cuộc sống bê tha. Ông thường xuyên có mặt tại các tửu quán, đánh bạn với không chỉ các cây bút trẻ mà còn cả những gã ma cô, những ả gái điếm. Verlaine trút hơi thở cuối cùng vào ngày 8/1/1896, khi mới ở tuổi 52 và tương truyền là vẫn chưa dứt một cơn say.

Thi hài của Verlaine được an táng tại nghĩa trang Cimetiere de Batignolles, trước sự đưa đám của hơn ba ngàn người. Điều ấy nói lên rằng, sự nghiệp thi ca của Verlaine đã thực sự chinh phục được trái tim của đông đảo người đọc.

Rất may mắn là một năm trước khi mất, Verlaine đã kịp viết xong bài giới thiệu cho "Tuyển tập tác phẩm của Arthurr Rimbaud"

Nguyễn Minh Luận

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.