Thi hào Rabindranath Tagore: Nghìn năm có một

Rabindranath Tagore (1861-1941) không chỉ là niềm tự hào của người dân Ấn Độ. Ông là nhà thơ châu Á đầu tiên được người phương Tây trao giải Nobel văn chương, là bậc kỳ tài đã để lại cho nhân loại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, có giá trị về nhiều mặt.

Ở Việt Nam, bạn đọc chủ yếu mới biết đến ông với tư cách một nhà thơ, trong khi thực tế, Tagore còn là nhà tư tưởng, nhà triết học, họa sĩ, nhạc sĩ... xuất sắc (ca khúc "Chúa là linh hồn tất cả chúng sinh" ông sáng tác năm 1911 đã trở thành Quốc ca Ấn Độ từ năm 1950), và riêng với mảng văn chương, ông còn là tác giả của những tập truyện ngắn, những cuốn tiểu thuyết, những vở kịch gây được ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả. Ông là một đại diện văn hóa tiêu biểu của Ấn Độ, được xem là "nghìn năm có một"...

Hiện tại, tuy thời điểm diễn ra lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh Tagore (7/5/1861) còn hơn 9 tháng nữa, song, theo như cháu gái nhà thơ - bà Sharmila Tagore - cho biết, đại gia đình bà đang vạch ra nhiều kế hoạch nhằm "quảng bá rộng rãi tác phẩm của Tagore đến công chúng Ấn Độ trong năm tới"...

Tagore sinh tại Calcutta, Ấn Độ. Ông là con út (thứ 14) trong một gia đình thuộc diện đại trí thức. Cha ông là một điền chủ, đồng thời là nhà triết học và nhà hoạt động xã hội có uy tín trong vùng. Các anh chị ông đều là những văn nghệ sĩ nổi tiếng. Ngay từ nhỏ, Tagore đã được hấp thụ một nền giáo dục hoàn mỹ và bản thân ông cũng đã bộc lộ rõ tư chất của một "thần đồng", ứng với tên gọi của ông (có nghĩa là "thiên thần ánh sáng mặt trời"). 8 tuổi Tagore đã làm thơ; 11 tuổi đã dịch được kịch "Macbeth" của Shakespeare; 13 tuổi đã có sáng tác nhạc, họa, đã đọc được sách cổ bằng tiếng Phạn. Điều lạ là thuở nhỏ, Tagore học ở trường không nhiều, thời gian chủ yếu ông học ở nhà với cha.

Năm 1878, khi Tagore vừa tròn 17 tuổi, ông được sang Anh du học. Gia đình muốn ông trở thành một luật gia. Song tại đây, thay vì học luật, Tagore dành nhiều thời gian để tìm hiểu, làm quen với văn chương và âm nhạc phương Tây. Năm 1881, về nước, ông sáng tác vở nhạc kịch đầu tiên, đồng thời cho in tập truyện "Thư của một người đi du lịch châu Âu" trong tạp chí Barati do hai người anh của ông sáng lập. Một năm sau, "Dạ khúc" - tập thơ đầu tay của Tagore ra đời, và tiếp đó là tập "Sự thức tỉnh của nguồn cội". Cả hai tập thơ đều được Tagore viết bằng tiếng Bengali, tiếng mẹ đẻ của ông. Nói chung, thơ Tagor thời kỳ này được đánh giá là kết hợp nhuần nhuyễn giữa "đạo" và "đời", nhưng tác giả chưa thể hiện mối quan tâm lớn đến chính trị.

Bước vào tuổi 24, Tagore lập gia đình cùng một người con gái khi ấy mới...10 tuổi, là người cùng bộ tộc và giai cấp với ông. Thời gian này, vì lý do sức khỏe, cha ông đã quyết định giao lại việc cai quản toàn bộ nhà cửa, gia sản cho ông. Trong suốt những năm sau đó, sẵn điều kiện, Tagore thỏa sức đi du lịch khắp đất nước Ấn Độ rộng lớn. Tác phẩm của ông cũng ngày càng đậm tính xã hội, nhất là ở thể loại văn xuôi. Một số tập truyện ngắn Tagore cho xuất bản trong thập niên cuối của thế kỉ XIX đã phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt của người dân Ấn Độ chống lại sự bạo quyền của những tên thực dân da trắng. Năm 1901, Tagore mở trường tư thục Santiniketan ngay tại trang ấp của gia đình ở ngoại ô Calcutta. Đối tượng học là các nam sinh có tư tưởng tự do, yêu nước.

Trong 5 năm (từ 1902 tới 1907), Tagore phải liên tiếp gánh chịu những tổn thất to lớn: Vợ, con gái, cha, rồi cậu con trai út của ông cứ thế lần lượt bỏ ông mà về bên kia thế giới. Sự mất mát ngỡ tưởng có thể làm Tagore không gượng dậy được, nhưng, nói theo cách của thi sĩ Pháp Musset, thiên tài thức dậy từ chính nỗi đau. Năm 1910, Tagore cho xuất bản bằng tiếng Bengali tập "Thơ Dâng", rồi đích thân dịch tập thơ sang tiếng Anh và cho xuất bản ở London năm 1912. Tập thơ nhanh chóng gây tiếng vang lớn trong giới văn sĩ châu Âu, để rồi một năm sau đó, tác giả của nó được trao giải Nobel. 

Xung quanh việc Tagore xuất bản tập "Thơ Dâng" và được giải Nobel cũng có lắm... chuyện kỳ. Chẳng là, trong thời gian nằm điều dưỡng tại một bệnh viện ở quê nhà, Tagore buồn tình đem tập thơ vốn dĩ viết bằng tiếng Bengali của mình dịch sang tiếng Anh. Dịch xong cũng là lúc ông ra viện và lên đường sang Anh. Thoạt đầu ông cũng chưa có ý định phải xuất bản ngay tập thơ ở Anh, nhưng một sự cố xảy ra đã khiến mọi sự vượt ra ngoài tầm kiểm soát của ông: Trên đường tàu điện ngầm ở London, Tagore đã sơ ý đánh rơi hộp đựng bản thảo. Tình thế buộc ông phải loan báo nhờ bạn bè tìm hộ. Mấy ngày sau, cơ quan quản lý tài sản bị mất ở London mời ông đến nhận lại hộp bản thảo. Đấy chính là cơ duyên để bạn bè Tagore, trong đó có một số nhà thơ nổi tiếng ở Anh biết tới nội dung tập thơ mới của ông. Họ đề nghị Tagore sớm cho xuất bản tập thơ (bằng tiếng Anh) để đông đảo công chúng trên thế giới được thưởng thức.

Sau khi tập "Thơ Dâng" được ấn hành với số lượng lớn và gây nên một dư chấn trong đời sống thi ca châu Âu, nhà văn Stuje Moore, một thành viên Hội Văn học Hoàng gia Anh đã giới thiệu tập thơ với Viện Hàn lâm Thụy Điển, đề nghị trao tặng tác giả giải thưởng Nobel văn học. Khi biết tin mình được trao giải thưởng danh giá, Tagore đang ở Mỹ. Không đến Thụy Điển nhận giải, ông chỉ gửi một bức điện cảm ơn ngắn: "Tôi xin chuyển tới Viện Hàn lâm Thụy Điển sự cảm kích, biết ơn của tôi về tầm nhìn rộng đã đem xa lại gần, và biến người lạ thành anh em". Bức điện đã được ông Clive, đại biện lâm thời Anh đọc tại tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) ngày 10/12/1913, thay cho diễn từ của tác giả. Toàn bộ số tiền nhận giải đã được Tagore tặng lại cho các học sinh của ngôi trường do ông lập ra.

Từ đây, Tagore được sùng mộ, được yêu mến và vinh danh trên khắp thế giới.

Có thể nói, bước vào thế giới thơ của Tagore, ta dễ có cảm giác ngỡ ngàng như bước vào một khu rừng thâm nghiêm, thần bí. Ở đó, cành lá ken dày và luôn phát ra những tín hiệu lạ, tỏa những hương vị lạ. Và bầu không khí thì đượm vẻ siêu thoát... Trái tim trần tục của ta bỗng dưng đập nhịp khác thường, như thể ta đang bước đi trong lãnh địa của một vị giáo sĩ đầy uy lực. Nhưng rồi, chỉ sau ít phút, khi tâm hồn đã tìm lại được sự yên tĩnh cố hữu của nó, ta bắt đầu nhận thấy quanh ta, từ thẳm sâu cành lá - văng vẳng một giai điệu trẻ trung, yêu đời, một thế giới của những sắc màu, hương thơm quen thuộc bỗng chốc mở ra, rõ ràng và bình dị...

Dân tộc Ấn Độ có câu ngạn ngữ rất hay: "Trước tình yêu, vua và dân như nhau". Tình yêu đã không phân chia ranh giới đẳng cấp thì tình yêu cũng xóa nhòa mọi tín ngưỡng và tôn giáo... Đến với tình yêu, ta thấy Tagore cũng "người trần" như tất cả các chàng trai khác trên thế gian. Ông khao khát được yêu, mong muốn tìm được người tri âm, thậm chí là người của một thế kỷ nào đó sau khi nhà thơ đã khuất. Khi Tagore viết: "Anh không giấu em một điều gì/ Chính vì thế mà em không biết gì  về anh cả" là ông rất "sâu sắc nước đời", hiểu những điều tưởng chừng nghịch lý nhưng lại rất biện chứng của tình yêu. Và khi ông kể lại câu chuyện một cô gái đã kiên quyết gạt bỏ mọi lời tỏ tình, mọi cử chỉ âu yếm của một chàng trai, chỉ khi chàng bỏ đi thì mới giật mình thổn thức: "Ai đó, sao không trở lại?", điều ấy chứng tỏ ông rất am hiểu tâm lý người đang yêu, đặc biệt là của các thiếu nữ. Ở đây, chúng ta có thể tin lời Ilya Erenburg: "Thanh niên Ấn Độ khi yêu nhau thường đọc thơ tình của Tagore".

Sinh thời, Tagore từng đặt chân tới nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ. Năm 1929, trong hành trình đi thăm một số nước châu Á, Tagore có ghé qua Sài Gòn 3 ngày. Cũng trong năm này, ông tổ chức triển lãm tranh ở Munich, New York, Paris, Moskva...Tagore được xem như biểu tượng tuyệt vời về sự kết hợp giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây.

Tagore qua đời tại Calcutta vào đúng năm ông tròn 80 tuổi, để lại một di sản đồ sộ gồm trên một nghìn bài thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút ký, tiểu luận cùng hàng ngàn bức vẽ, hàng ngàn bài hát...

Như ở đầu bài đã nói, Tagore sáng tác chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ rồi sau đó trực tiếp chuyển sang tiếng Anh, tuy nhiên, số tác phẩm ông dịch sang tiếng Anh cũng chỉ chiếm non nửa. Trong khi, tiếng Bengali chỉ là một thổ ngữ trong hàng trăm thổ ngữ của Ấn Độ nên đa số người Ấn Độ học vấn trung bình không đọc được thơ Tagore. Có lẽ vì thế mà ý kiến của bà Shamila Tagore - cháu gái nhà đại thi hào - là cần phải dịch các sáng tác của Tagore sang tiếng Hindi (thứ tiếng hiện được trên 40% người dân Ấn Độ sử dụng) hơn là sang tiếng Anh, là một ý kiến nghiêm túc rất cần được lưu tâm

Lưu Thanh Minh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.