Tết năm Cọp, ăn tôm, thịt heo kho tàu…

Bạn mình ơi, cha chả là hay. Thú vị thiệt. Đọc xong ắt phải há miệng ra cười một phát mà ưng ý, mà chịu cái tính cà rỡn, bông đùa cực kỳ hóm hỉnh của người miền Nam nước Việt mến yêu. À, à, ngẫm nghĩ một lúc, có nên đọc to lên không? Chớ dại. Cô vợ đang lúi húi bếp núc, nghe câu này ắt bực bội, không khéo mình treo mỏ như chơi.

Trưa trưa thấy đói thèm cơm

Ngó đùi em vợ tưởng tôm kho tàu

Cười xong, tự hỏi, "Ủa, kho tàu là kho làm sao? Tại sao gọi kho tàu?". Câu hỏi này đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Mỗi người một phách. Nói tóm lại, có 2 luồng ý kiến phổ biến như sau:

1. Đây là lối kho theo nghệ thuật ẩm thực người Hoa/ người Tàu;

2. Hầu hết đều dựa vào ý kiến của nhà văn Bình Nguyên Lộc, "thì chữ "Tàu" nói theo ngôn ngữ miền Tây có nghĩa là "mặn ngọt lờ lợ". Những dòng sông có nước lờ lợ như sông Cái ở phía trên thì dân Nam Bộ mình gọi là sông Cái Tàu Thượng, sông Cái ở phía dưới thì gọi là sông Cái Tàu Hạ, sông Lòng ở Cần Giờ thì gọi là sông Lòng Tàu vì những sông này có nước lờ lợ". Không rõ nhà văn “Đò dọc” có nói như thế không, vì không thấy ai dẫn nguồn.

Tết năm Cọp, ăn tôm, thịt heo kho tàu… -0

Nay, ta thử xét các ý kiến trên.

Thứ nhất, xem ra thịt kho tàu của người Tàu cũng có lý vì thông thường xưa nay, người ta thường gọi vật phẩm, trái cây… theo tên xuất phát từ nước đó, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) có liệt kê như cam tàu, quýt tàu, mực tàu… Tương tự, hàng đến từ Thái Lan, tự vị này cũng cho biết nó còn gọi là xiêm, thí dụ chuối xiêm: "Thứ chuối lớn trái ngọt mặn, nguyên là thổ sản nước Xiêm, thuở mới có, ai nấy đều lấy làm quý"; “Thông loại khóa trình” (số 3 tháng 6-1888) cũng cho biết thời ấy, cây gỗ tếch/ cây giá tỵ nhập từ Xiêm nên còn có tên cây dầu xiêm. Ngoài ra, còn có thể kể thêm vịt xiêm, chuối xiêm, mãng cầu xiêm hoặc dừa xiêm… Hoặc ngay cả thuốc lào cũng vậy, là du nhập từ nước Lào, nhà văn hóa Lê Quý Đôn đã giải thích rồi. Tức sản vật ấy gọi theo tên của đất nước đã du nhập vào nước Nam ta.

Thêm một điều thú vị nữa, khi các quan chức nước ta đi sứ nước ngoài đem về, các thứ ấy lại được gắn với tên gọi là sứ. Tự vị trên cũng cho biết: "Cây hoa sứ, sứ tàu, sứ ma: Thứ cây có hoa thơm tho, có hai giống: giống bên Trung Quốc đem qua gọi là sứ Tàu, lớn cây, bông có vàng trắng hai sắc, mà thơm ngọt; còn một giống nhỏ cây gọi là sứ ma, lớn bông mà thơm gắt". Hoa sứ này quen thuộc hơn tên gọi hoa Champa/ hoa đại. Do cách gọi này nên chuối xiêm cũng gọi chuối sứ v.v…

Vậy, tôm kho tàu, thịt kho tàu cũng nằm trong "quy luật" này?

Không đâu. Nhầm chết. Về thịt kho tàu, ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: "Thịt luộc rồi kho với nước mắm mà có bỏ đường một ít". Ấy là nói theo nhà tự điển, còn các tay đầu bếp chuyên nghiệp có ý kiến gì khác? Họ cũng đồng ý với ý kiến trên, tức là nó không dây mơ rễ má gì với cách nấu của người Tàu. Trong quyển “Sách dạy làm bếp” (Imprimere de Hanoi -1944) của ông Nguyễn Khắc Khiêm, "nguyên giám trù Phủ Toàn quyền Hà Nội" có liệt kê, hướng dẫn cách làm món thịt kho tàu, cá quả kho tàu ở phần "Các món ăn về lối Annam" (tr. 166). Giám trù là người trông coi về việc bếp núc.

 Như vậy là đã rõ.

Thế nhưng biết đâu vẫn có người gân cổ lên cãi, không đâu, món này của người Tàu vì ai cũng biết rằng chính họ đã sáng chế ra "tàu yểu/ tàu vị yểu", tiếng Hán Việt "đậu vị dầu" đọc theo tiếng Quảng Đông là "tầu méi yầu", nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ cho biết, ta thường gọi nước tương. Và, khi nấu món kho, người ta sử dụng tàu vị yểu, do đó, từ tên gọi "kho tàu vị yểu" nói gọn mà thành "kho tàu"? Cái lý này, thoạt nghe cũng có lý nhưng khổ nỗi cái lý này không có chân nên không thể trở thành "chân lý", vì kho trong lúc kho tàu các bà nội trợ khéo tay của nước Nam ta chỉ dùng nước mắm. Hơn nữa, trong “Sách dạy nấu ăn trong gia đình” (Nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn, 1920) của bà Diệp Nhược Lan "phụng soạn" đã phân biệt rõ ràng hai cách nấu "thịt kho tàu" và "thịt kho tàu yểu" - một bên kho bằng thịt ba rọi, một bên kho bằng giò heo, hoàn toàn khác nhau.

Thứ hai, về ý kiến được cho của Bình Nguyên Lộc, ta thấy gì?

Với lập luận như trên, phải nói ngay, từ "cái" đứng đầu trong địa danh ở miền Nam đến nay các nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu vẫn chưa quả quyết là từ vay mượn tiếng Khmer hay từ thuần Việt? Có ý kiến cho rằng, "cái" vay mượn từ "pek" (Nguyễn Chí Bền, Văn hóa Bến Tre, NXB Khoa học xã hội - 2015, tr. 172); nhà văn hóa Vương Hồng Sển thận trọng, chỉ dám khẳng định: "Một địa danh duy nhứt dẫn đầu bằng chữ "cái" mà tôi biết" đó là từ "Cái Răng phát âm từ karan biến ra" (“Tự vị tiếng Việt miền Nam” - NXB Văn Hóa - 1993, tr. 98). Vậy, nghĩa của "tàu" trong Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ, Lòng Tàu không thể mang ý nghĩa như đã suy diễn, võ đoán là "mặn ngọt lờ lợ", "nước lờ lợ".

Ô hay, thế thì "tàu" nghĩa là gì nhỉ?

Trước hết, ta cần biết rằng, ngày xưa trong tâm thức của người nước Nam nói chung "Đại để hàng gì tốt, vật gì tốt đều gọi là của Tàu", theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895). Từ "tàu" hiểu theo nghĩa này, không dùng riêng tại miền Nam, bằng chứng là có món cá lóc kho tàu, sách của ông "giám trù" Nguyễn Khắc Khiêm ngoài Hà Nội đã nhắc tới. Nói cách khác, "Tàu" từ danh từ riêng nhưng khi được sử dụng trong kho thịt, luộc thịt nói chung nó chính là tính từ nhằm chỉ cách chế biến công phu, "đỉnh/ cực đỉnh" dành cho món ấy. Thí dụ, cá kho, thịt kho, tôm kho là kho "bình thường như cân đường hộp sữa", nhanh chóng, dễ dàng, nhưng một khi kèm theo từ "tàu", ắt chế biến phải nhọc công hơn, bài bản hơn và tất nhiên ngon hơn, "đẳng cấp" hơn, để dành lâu hơn.

Từ "tàu" này, dám quả quyết là vốn từ quen thuộc của các ông bà nội trợ ngày xưa, dấu vết của nó ta có thể tìm qua câu văn trong tập sách của bà Diệp Nhược Lan: "Phàm làm đồ tàu phải cho nước trong và cho ngọt mới khéo" (tr. 10). Đó là về phần nước; còn phần cái, ngoài nguyên liệu hạng tốt còn phải đẹp mắt nữa, âu cũng là thẩm mỹ trong chế biến thức của người Việt.

Tết năm Cọp, ăn tôm, thịt heo kho tàu… -0

Ta hãy nghe bà Diệp Nhược Lan hướng dẫn làm món thịt kho tàu: "Lựa cho đặng thịt heo đực lớn con thì lớp thịt ba rọi nó mới dày. Mua về rửa cho sạch mà luộc cho chín, vớt ra rửa lại nữa cho sạch, cắt miếng lớn nhỏ tùy ý, đổ một chút ít mật ong trong chảo thắng cho vàng đỏ, đổ vô một ít nước để mà thoa thịt miếng cho vàng. Nước mắm với dừa tươi, hai thứ đổ lộn liệu cho vừa ăn, nấu cho sôi, đổ qua thịt cho ngập, rồi đậy nắp vung mà nấu lửa than. Coi chừng thịt mềm thì nhấc xuống, ngó miếng thịt nó trong đỏ và ngon. Phàm kho thịt thì bỏ màu mật ong ngon hơn đường".

Nếu không có mật ong thì sao, có thể làm cách nào khác? Theo ông Nguyễn Khắc Khiêm: "Lấy nước mắm cho ngon hoặc xay dầu đun sôi cho thịt vào. Giã củ gừng thật nhỏ rồi cho vào nước hàng đun om ỷ cho nhừ".

Còn tôm kho tàu? Bà Lan bày vẽ tiếp: "Tôm làm rồi, lột hết vỏ chừa đuôi, lấy gạch ra để riêng, xẻ lưng rút chỉ sống, lận con tôm lại cho tròn, bỏ vô mỡ sôi chiên cho thiệt vàng, đổ nước mắm cho vừa ăn và bỏ một chút đường, chụm lửa riu riu, trở cho thấm đều con tôm, rồi đổ vô một chút nước cho thiệt thấm, nước rặt còn xắp dưới tôm. Gạch để riêng hồi nẩy thì đựng trong tộ đã bỏ vô một chút đường, vần trên tro nóng mà khuấy vừa lỏng, nhấc ra đừng để khô. Rồi mới gắp tôm kho nhúng từng con vô trong gạch đánh ấy mà sắp lại bề đuôi như trên, để cho sôi lại một chặp y nguyên như vậy đừng trở nữa" (tr. 17).

Chính mật ong (hoặc nước hàng) đã thắng kho ngấm vào miếng thịt heo; gạch tôm bao quanh con tôm đã tạo nên sắc màu không "đụng hàng" rất đặc trưng, ngon tuyệt cho hai món kho tàu này.  Tính từ tàu trong ngữ cảnh này trùng âm với danh từ Tàu trong tâm thức của người thời trước mà “Đại Nam quốc âm tự vị” đã ghi nhận. Trải qua năm tháng, tàu trong nghệ thuật chế biến của người Việt đã phai nghĩa, vì thế ta mới nhầm lẫn tàu với Tàu; hoặc cho rằng tàu là "mặn ngọt lờ lợ". Trở lại câu ca dao thuộc thể tỷ (so sánh) vừa nêu trên, có hỏi gì thêm nữa không, thưa rằng, chỉ dám hỏi, vậy lúc "Ngó đùi em vợ tưởng tôm kho tàu", cái nào ngon hơn cái nào? Cô vợ đang đứng kè kè bên cạnh đó, bạn mình ơi, có ngon, có bảnh thì trả lời đi.

Dám không?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?