Tết đặc biệt của người Mông

Dân tộc Mông vốn là cư dân trồng lúa nước. Họ dùng lịch mặt trăng - âm lịch. Tuy nhiên, cách tính của người Mông có sự xê dịch so với lịch của người Kinh là không có tháng thiếu và không có năm nhuận. Mỗi tháng có 30 ngày, ngày thứ 361 là ngày mồng 1 "Tết của một năm”.

Theo cách tính của lịch người Mông, cuối tháng con Bò (tương ứng với tháng 11 âm lịch của người Kinh), hoặc đầu tháng con Hổ (tháng 12 âm lịch) là các làng bản người Mông đã nhộn nhịp không khí Tết. Đó là khi mùa màng xong xuôi, ngô lúa đầy bồ, lợn gà đầy sân, cỏ khô đã chuẩn bị cho bò, ngựa... Tết truyền thống của người Mông kéo dài suốt tháng chạp (tháng 12 âm lịch) tới Tết Nguyên đán của người Kinh... Tùy theo sự chuẩn bị về vật chất, khả năng từng gia đình, dòng họ, các làng bản đã bắt đầu ăn Tết. Thường thì Tết vùng Tây Bắc diễn ra sớm hơn vùng Đông Bắc trước 15 - 20 ngày.

Việc mổ lợn Tết dứt khoát phải mời bà cô dòng họ, ông cậu hoặc người thân thích trong dòng họ đến chứng kiến. Chọc tiết lợn xong, chủ nhà lấy một xấp vàng mã đặt lên chỗ xoáy trán lợn để đốt. Thủ tục này nhằm phân biệt con lợn để ăn Tết với con lợn bình thường; để tổ tiên, thần ma thừa nhận đó là con lợn Tết.

Lễ hội của người Mông khi tết đến.
Lễ hội của người Mông khi tết đến.

Việc ăn Tết cổ truyền của người Mông mang nặng tính cộng đồng dòng họ (Xênh), gắn liền với tín ngưỡng của dòng họ mang tính nội tộc là chủ yếu. Vì vậy không phải ai cũng được mời đến ăn Tết, hoặc tự tiện đến chúc Tết gia đình họ. Dịp này chỉ những người cùng dòng máu, ruột thịt, cùng dòng họ về gặp nhau nhận họ, ăn uống, chúc tụng, tâm sự, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống. Việc tổ chức mổ lợn Tết được luân phiên từ nhà này sang nhà kia.

Gia đình mổ lợn phải mời Người cầm quyền dòng họ (trưởng họ), bà cô, ông cậu, bố mẹ vợ, anh chị em ruột, người cùng dòng họ. Trong các câu chuyện có bàn việc của dòng họ. Khi chia tay để sang ăn Tết nhà khác người cùng Xênh (tức cùng dòng họ hẹp biết nhau qua cách bày cúng ma Bò) sẽ được gia chủ biếu một khoanh thịt lợn nhỏ hình bán nguyệt xẻ từ giữa đốt sống con lợn đến giữa bụng lợn - nhưng dứt khoát phải có một rẻ xương sườn để làm quà cùng một chai rượu nhỏ. Người được mời đến ăn Tết cũng mang biếu gia chủ một khoanh thịt lợn như thế, cút rượu. Nếu là nhà khá giả thì biếu thêm một con gà thiến cho gia chủ.

Lễ trừ tà

Vào những ngày cuối tháng con Bò (tương đương tháng 11 âm lịch của người Kinh), chủ nhà mời người cầm quyền ma khách (hoặc Tsi H`ninhs, trợ lý của người cầm quyền ma khách - mà từ trước đến nay người Kinh gọi chung là thầy mo - sau đây gọi chung là thầy mo cho dễ nhớ) đến nhà để làm lễ trừ đuổi tà ma. Ông được gia chủ đưa cho một túm lá có 3 cành nhỏ, hoặc 3 nhành cỏ cứng, hay 3 bông lau  chập vào nhau buộc bằng chỉ ngũ sắc. Ông cầm túm lá đi quanh nhà vừa phất phất, miệng tấu lên bài đuổi tà ma, cái xấu xa ác độc ra khỏi nhà gia chủ. Xong việc, ông mang túm lá ra ngã 3 đường mòn phía Tây ngôi nhà vứt túm lá ở đó.

Xong nghi lễ này, người nhà mới được phép dọn dẹp nhà cửa. Tất cả bụi bẩn, rác rưởi gia đình phải mang ra nơi thầy mo ném túm lá để đổ ở đó - với ý nghĩa cái xấu xa, độc ác, tà ma, xúi quẩy, rủi ro...theo mặt trời lặn mà biến đi cùng bóng tối không tìm ra đường quay về nhà làm hại gia đình. Sau lễ trừ tà, các thành viên trong gia đình tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ để chờ đón năm mới.

Lễ quét phép

Để lo cho lễ này gia chủ phải kiếm một loại cây mọc thẳng, lá thuôn dài, thân có gai dài và nhọn, thân cây chừng bắp tay, cao độ 3-4 mét. Trên cùng cây, ngọn bị cắt cụt để một nhánh làm mấu treo. Gia chủ bện một sợi dây cỏ dài 5-7 mét, Tết cho mỗi người trong gia đình một vòng cỏ quấn chỉ ngũ sắc để đeo vào tay. Hai ngày giáp Tết, cả gia đình kiểm tra lại thực phẩm, cỏ dự trữ cho dê, bò, ngựa, các vật dụng xem còn thiếu sót gì? Gia chủ lấy những xấp giấy vàng mã, có đục lỗ hình đồng tiền tròn dán vào tất cả mọi thứ quanh nhà: từ kèo cột, hòm xiểng, cửa, cày cuốc, dao gùi, nồi niêu, cây cối quanh nhà...để giữ vía chúng ở lại ăn Tết.

Khi đã sẵn sàng, gia chủ mời thầy mo đến hành lễ. Chủ nhà buộc chặt con gà trống và một đầu dải cỏ buộc vào mấu trên ngọn cây nêu, nâng cây nêu chôn chặt vào hố ngay sau cổng vào sân, kéo căng dây cỏ tạo ra một chiếc cổng hình tam giác vuông chặn hòn đá to để giữ dây cỏ cho căng. Người nhà xếp hàng dọc phía trong cổng.

Khi thầy mo cất lên bài quét phép, lần lượt từng người được thầy mo đeo cho chiếc vòng cỏ vào cổ tay. Họ đi 3 vòng sang bên này, 3 vòng sang bên kia rồi trao trả cho thầy chiếc vòng cỏ. Xong xuôi, nhổ cột nêu, thầy giao cho một thanh niên khỏe mạnh trong nhà vác cây nêu đi về phía Tây ngôi nhà tìm một tảng đá to đặt cây nêu xuống. Rồi cắt tiết gà, lấy máu vẩy vào dây cỏ. Nhổ lông đuôi, lông cánh gà cứ 2-3 gang tay cắm 1 chiếc lông vào dây cỏ. Móc tất cả số vòng cỏ đeo tay vào mấu trên đỉnh cây nêu. Dựng cây nêu vào kẽ đá, rồi mang gà về nhà làm thịt.

Năm 2013 vào tháng 3 tôi có chuyến đi Hà Giang. Trên đường từ Lũng Cú đi Đồng Văn vẫn nhìn thấy 2 chiếc cây cột cao vút của người bản Mông cắm vào khe đá. Tuy đã 3 - 4 tháng  kể từ Tết nhưng vẫn nhìn rõ những lá cờ tam giác nhỏ cùng những chiếc lông gà trên dây bện cỏ bay bay trước gió.

Lễ gọi vía

Sau lễ quét phép là lễ gọi vía. Một chiếc ghế được đặt chính giữa nhà. Trên ghế đặt một bát gạo hoặc ngô, trên gạo, ngô đặt 1 quả trứng sống. Dưới gầm ghế đặt chiếc ống bơ hoặc nồi đất bên trong chứa những cục than hồng. Thầy mo thành kính thắp hương cắm vào bát gạo, rắc ít sáp ong trên các cục than đang hồng để tạo khói. Rồi tay trái ông ôm một con gà trống lớn, mào to đỏ chói (tượng trung cho Gà thần)  tay phải cầm 1 chiếc kéo đứng giữa cửa ra vào quay mặt ra phía cổng. Ông cất lên một bài hát lễ nghi nghiêm trang trong khói hương, khói sáp đang bốc lên nghi ngút. Đoạn cuối nội dung lời hát  như sau:

"Hôm nay là ngày lành, đêm nay là đêm tốt. Hôm nay là ngày cùng , năm nay là năm tận, tháng này là tháng trăng cùng, mặt trời cũng tận để sang năm mới. Tao đứng đây lớn tiếng gọi: Không gọi tiếng Krềnh (tức là tiếng khèn), tiếng trống đám ma; không gọi tiếng rên xiết ốm đau, không gọi lời thị phi xấu xa, không gọi ma tà ác độc... Tao chỉ gọi gia đình này có bao nhiêu vía về mà ăn Tết. Ông bà, bố mẹ, con cháu chắt, vía tiền của, thóc gạo , trâu bò gà lợn... mau mà về.

Nếu đứa nào chưa về thì hơi hương, khói sáp giúp tao đi rước nó về. Đứa nào rơi xuống vực thẳm sông sâu, theo khói hương khói sáp mà tìm đường về. Đứa nào bị đất hút, đi đầu thai, mắc nạn hay bị gì nữa không về được... thì gà ơi! Mày hãy tới đó lấy chân mà cào, lấy mỏ mà mổ, lấy cánh mà đập đưa chúng nó về đây. Chúng mày cứ về đi, môn thần (thần cửa) đã rộng mở đón chúng mày về. Hãy về đi, về đi cho nhanh, về đi cho đầy đủ nhé".

Thầy mo gõ chiếc kéo vào thành cửa vài lần, rồi ném chiếc kéo qua vai vào phía trong nhà - nơi có bàn thờ thần Skap (là thần giữ của, quản việc nhà - mà mọi người nhầm lẫn cho đó là bàn thờ tổ tiên). Nếu mũi kéo chỉ về phía bàn thờ tức là các vía đã về đầy đủ. Nếu chệch hướng, thầy phải làm lại từ đầu (nhưng thường thì được ngay bởi thầy đã quen thành chuyên nghiệp).

Gọi vía xong, thầy giao gà cho người nhà làm thịt. Bát hương có quả trứng thầy đặt lên bàn thờ thần Skap. Gia chủ bắt tiếp một con gà trống nữa giao cho thầy mo làm lễ cúng thần Skap. Thầy cắt tiết gà, di cổ gà còn bết máu vào tập tiền vàng mã và dính vài lông tơ gà vào đó - tập tiền vàng mã đã được đóng cố định trên bàn thờ. Nếu nhà có người ốm thì phải làm thêm một con gà nữa nhờ thầy gọi vía về (người Mông cho rằng người bị ốm là do người đó bị mất vía, hay do vía giận bỏ đi).

Cúng tất niên và đón giao thừa

Khi các món ăn đã đầy đủ, gia chủ bày ra mâm cùng bát đĩa, thìa đũa (đặc biệt không có món rau nào). Thầy mo ngồi xuống tấu lên bài mời tổ tiên về hưởng thành quả lao động của con cháu, phù hộ cho đại gia đình có sức khỏe, làm ăn phát đạt gấp trăm nghìn năm cũ. Rồi chủ nhà trực tiếp mời thứ tự tên tuổi từ xa đến gần 4,5,6,7 đời về ăn Tết với con cháu. Thầy mo ngồi cạnh chủ nhà lắng tai nghe xem có mời đúng không? Nếu thấy sai thì sửa ngay.

Cứ mời một đời chủ nhà lại lấy tay bấu một tí xôi, một tí thịt để vào cạnh mâm. Tiếp theo thầy mo cúng mời các vong hồn lang thang về hưởng Tết cùng gia chủ. Từ lúc này gia đình cùng thầy mo bắt đầu hưởng lễ. Khi thầy mo chia tay, gia chủ biếu thầy ít quà Tết là thực phẩm và chai rượu. Cả nhà đánh chén, uống rượu say nghiêng ngả. Riêng chủ nhà không được uống say, phải tỉnh táo đến giờ giao thừa lắng nghe xem con vật nào cất tiếng đầu tiên để đoán xem năm sau tiết trời lành hay độc, người và gia súc gia cầm có bị bệnh dịch gì không?

Qua giao thừa, phụ nữ mang thùng, xô đi ra suối gánh nước mang về lấy may có ý nghĩa no đủ, đầy đặn. Đồng thời cân thùng nước mới lấy so sánh với thùng nước năm cũ xem thùng nào nặng hơn. Nếu thùng nước giao thừa nặng hơn tức là năm nay sẽ mưa nhiều, mùa màng thuận lợi, sẽ được mùa no ấm.

Ngày nay các phong tục cổ truyền này bị hao hụt mất đi ít nhiều không còn đầy đủ như xưa để phù hợp với cuộc sống đương đại có nhiều cái mới trong sản xuất, sinh hoạt. Tết Mông cũng không còn khép kín trong dòng họ, mà cởi mở hơn thành sinh hoạt có tính cộng đồng xã hội để các dân tộc cùng chung vui.

Đinh Đức Cần-Xuân 2016

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.