Người sĩ quan cấp tướng ấy là đồng chí Nguyễn Đức Minh, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng - Công an nhân dân, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược - Bộ Công an. Biết ông đã có hơn 10 năm hoạt động ở chiến trường miền Nam với cương vị là Ủy viên Ban An ninh khu 6, chúng tôi đã tìm đến gặp ông và được nghe ông kể lại bao kỷ niệm về những ngày sống, chiến đấu tại chiến trường khu 6; đặc biệt là những cái tết ở chiến trường.
Từ tết đầu tiên ở chiến trường…
Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh kể rằng, năm 1965, trước nguy cơ thất bại trong chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại đến nhiều địa phương ở miền Bắc. Trong bối cảnh đó, theo chỉ thị của Bộ Công an, hàng trăm cán bộ nghiệp vụ bao gồm cả an ninh và cảnh sát đang công tác ở cơ quan Bộ và Công an các tỉnh phía Bắc lần lượt lên đường vào công tác ở chiến trường B.
Sau thời gian học tập và luyện tập, nhận các nhu yếu phẩm và đồ dùng cá nhân phục vụ chuyến đi, đầu tháng 11 năm 1965, đoàn cán bộ Công an chi viện cho chiến trường miền Nam đã lên đường. Từ trường C500, những chiếc xe ôtô tải cài lá ngụy trang chở họ vào địa điểm tập kết ở làng Ho, tỉnh Quảng Bình, sau đó là cuộc hành quân bộ vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam.
Sau gần một năm hành quân bộ vượt núi, băng rừng theo sự phân công, ông và một số cán bộ Công an chi viện vào đến chiến trường khu 6, cũng là thời điểm giáp tết âm lịch. Càng gần đến ngày giáp tết, cuộc chiến tranh giữa ta và địch càng trở nên ác liệt.
Về phía ta, để đảm bảo cho đồng bào ăn tết, trước đó các chiến sĩ An ninh khu đã điều tra bắt giữ hàng trăm tên tề ngụy, bọn ác ôn. Cũng do nắm được âm mưu của địch nên ta đã mở nhiều cuộc tấn công; giành giật được một số đồn điền, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.
Tuy vậy, vào thời điểm này, để đảm bảo bí mật và an toàn, Ban An ninh khu 6 đã di chuyển đến địa bàn giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Phước Long. Đây là nơi có địa hình khá phức tạp, đa phần là đồi núi, xa dân và chỉ có đồng bào dân tộc sinh sống. Do việc trang cấp nhu yếu phẩm gặp nhiều khó khăn nên các chiến sĩ An ninh khu 6 vừa phải lo đánh địch, lại vừa phải lo cái ăn hàng ngày.
Thức ăn thường ngày quanh đi quẩn lại vẫn là sắn, ngô và rau rừng. Mặc dù vậy, không khí đón tết âm lịch năm ấy xem ra cũng khá rôm rả. Trước đó, anh em An ninh khu đã nuôi được một con lợn là vật phẩm đáng giá nhất để ăn tết. Gần đến tết, lãnh đạo An ninh khu cử anh em về Phước Long mua thêm nước mắm, muối, dầu rán và thuốc rê.
Đây cũng là một cái tết sum họp giữa các cán bộ Công an người miền Nam tập kết ra Bắc rồi quay trở lại chiến trường và các chiến sĩ Công an miền Bắc vừa vượt qua hàng ngàn cây số chi viện cho An ninh khu 6 cùng anh chị em An ninh khu 6 là người địa phương.
Sau bữa cơm thân mật vào chiều 30 tết, tối giao thừa năm ấy, mọi người tập trung kể cho nhau nghe những kỷ niệm, những câu chuyện tết ở vùng quê mình. Với các chiến sĩ Công an miền Bắc thì đây là cái tết đầu tiên của họ ở chiến trường nên nhiều người rất nhớ nhà, nhớ quê hương. Song cứ nghĩ đến những nhiệm vụ được giao, ai cũng phải kìm nén.
Có một câu chuyện mà cho đến giờ anh em chúng tôi vẫn còn nhớ mãi. Sau khi đón giao thừa xong thì đêm đã khuya, mọi người chuẩn bị ra về, chợt nghe tiếng khóc thút thít ở khu nhà bếp. Mọi người mở cửa bước vào thì nhận thấy một số chị em phục vụ đang ôm nhau khóc vì nhớ nhà.
Sáng mồng một tết năm ấy, như kế hoạch đã định, các chiến sĩ An ninh khu 6 phân công nhau đến các buôn làng để chúc tết đồng bào các dân tộc. Bước sang ngày mồng 2, không khí ngày tết vẫn đang sôi động thì Ban An ninh khu nhận được tin: Mỹ - ngụy đã mở cuộc hành quân đánh vào trại giam của Công an tỉnh Bình Thuận.
Sau sự kiện này, Đài Phát thanh Hoa Kỳ và Đài Phát thanh Sài Gòn ra rả nhắc đến chiến công: "Cuộc giải thoát tù nhân ở Bình Thuận". Món nợ này mãi đến mùa xuân 1968, các chiến sĩ An ninh Khu 6 mới trả được qua một trận tập kích vào trại giam của địch ở thị xã Phan Thiết, giải thoát cho hàng trăm chiến sĩ cách mạng bị địch bắt để đưa ra vùng giải phóng.
Bước sang 1967, tình hình chiến sự ở toàn miền
Đây là những địa bàn trọng điểm của Ban An ninh khu 6. Do cài cắm được cơ sở nên các chiến sĩ An ninh khu 6 đã thu thập được nhiều tin tức tình báo về tình hình và âm mưu của địch. Những nguồn tin ấy góp phần câu nhử địch, giúp quân giải phóng tạo bẫy để đánh địch. Chỉ sau bốn mươi phút, ta đã tiêu diệt hai đại đội bảo an ngụy. Các cố vấn Mỹ hoảng sợ bỏ chạy.
Trận đánh này đã có tiếng vang lớn, gây hoang mang trong lòng địch. Nhân dân rất phấn khởi. Với các chiến sĩ An ninh khu 6 thì trận đánh này mở ra một cục diện mới, bởi trước đây, để đột nhập được vào khu vực xã An Lạc quả là một bài toán nan giải. Có tháng hai mươi chín đêm đột nhập thì đều thất bại cả.
Vậy mà sau chiến thắng này, họ ra vào khá thoải mái. Lúc này lại đúng vào dịp tết Nguyên đán. Năm ấy, để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đón tết, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Tại đây có một tiểu đội được trang bị súng trung liên cắm chốt. Thấy lạ, một số người dân nói: "Đây là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi được ăn một cái tết với đội công tác của mặt trận". Trong dịp tết ấy, các chiến sĩ An ninh đến từng nhà dân để chúc tết. Gặp ai, họ đều nhận được sự vui tươi, hồ hởi đọng trên mỗi nét mặt.
Cũng vào dịp tết năm ấy, trên tuyến đường từ Sài Gòn lên Đà Lạt, người và xe đông hơn. Nhiều bà con ở Sài Gòn, ngoài việc thăm bà con họ hàng trong dịp tết, nhiều người muốn được ngắm nhìn lá cờ nửa đỏ, nửa xanh của Mặt trận Dân tộc giải phóng đang phấp phới trong gió xuân ấm áp. Nhìn những dòng người ấy mà lòng các chiến sĩ An ninh khu 6 thấy phấn khởi, bởi họ đã góp phần cho một cái tết đầu tiên ở một vùng vừa giải phóng.
Đến niềm vui và nỗi buồn của đời lính
Ở khu 6 như đã thành thông lệ, mỗi khi gặp nhau, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là: "Rẫy bên anh năm nay thế nào?". Đấy là chưa kể cái vui của mùa bẻ bắp, ăn ngô non nướng tại đầu bờ. Đêm đang ngủ, anh em đi săn bắn về gọi dậy nấu cháo cheo, gà rừng, có khi nai, là gấu, là hổ… Khi bắn được con vật lớn thì được phép ăn một bữa thịt no để tiết kiệm gạo. Có thời điểm từ giữa tháng chạp đến đầu tháng giêng âm lịch, đơn vị tôi ăn toàn thịt voi, gói bánh chưng nhân cũng bằng thịt voi.
Đấy là cánh cán bộ ở trên rừng núi. Còn cánh xuống phía biển Bình Thuận, Ninh Thuận lại có một câu chuyện vui khác Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh. Dịp đó, ở Bình Thuận, mỗi năm chỉ mưa có ba tháng, chín tháng còn lại là khô hạn. Nước mưa chảy tụ lại ở mấy cái bầu (như ao ở miền Bắc).
Hàng ngày, anh em phải ra bầu lấy nước về ăn. Nắm được thông tin này, mỗi lần địch càn quét, trước hết chúng phục kích ngay ở khu vực có mấy cái bầu nước. Vì nước hiếm và quý như thế nên ở vùng cát, một bi đông nước đủ tắm một người. Khi chạy càn, các cán bộ An ninh phải lo chạy bi đông nước trước vác gạo sau. Có trường hợp, Bí thư Huyện ủy truyền đạt nghị quyết của Trung ương Cục, nói rát cổ, khi lấy bi đông nước của mình ra nhấp giọng mà lượng nước chỉ tính bằng giọt.
Nhiều lúc các cán bộ, chiến sĩ Công an lại nặng trĩu nỗi buồn mỗi khi nhận được tin về những cán bộ An ninh khu 6, trong đó có cả một số cán bộ Công an miền Bắc chi viện bị hy sinh trong các cuộc chiến đấu với địch. Người chiến sĩ an ninh chi viện bị hy sinh đầu tiên là anh Chiến (nguyên Phó ty Công an Lào Cai), Ủy viên Ban An ninh khu.
Dịp đó (năm 1967), anh đi công tác từ vùng Phan Lý Chàm (Bình Thuận) gặp địch càn. Khi bị thương, anh còn rút súng chống trả quyết liệt, xé sổ tay để hủy tài liệu, nêu gương kiên trung bất khuất. Còn anh Xuân Vinh (nguyên Phó phòng Cục Bảo vệ chính trị), Trưởng phòng của Ban An ninh Khu 6 cũng bị xe tăng địch phục kích bắn chết ở khu tam giác Bình Thuận.
Anh Hãn, anh Thực, anh Tuấn Dũng đều ở An ninh Bình Thuận, anh Chí Dũng ở An ninh Lâm Đồng và còn nhiều anh em khác đều hy sinh trên đường công tác và chiến đấu. Còn người hy sinh đầu tiên sau ngày miền
Các liệt sĩ trên, có người đã được thân nhân đưa về quê hương, có người đã được quy tụ về yên nghỉ cùng đồng đội ở Nghĩa trang liệt sĩ Đà Lạt, Di Linh, Phan Thiết. Nhưng cũng có anh còn ở núi rừng Bình Thuận - Lâm Đồng mà đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt; nhưng chiến công của họ mãi mãi được Tổ quốc và nhân dân ghi công