Tái khởi động cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích ở Alaska

Ngày 26/1/2024, đúng 74 năm sau ngày chiếc máy bay C-54 với 44 hành khách và phi hành đoàn mất tích ở Alaska (26/1/1950), gia đình cố trung úy phi công Mike Tisik với sự trợ giúp của các chuyên gia cùng các thiết bị tối tân đã tái khởi động cuộc tìm kiếm với hy vọng tìm thấy di vật của những người quá cố…

Chuyến bay định mệnh

Là một phần của Phi đội hỗ trợ chiến lược số 1 trực thuộc Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ, căn cứ đặt tại sân bay Biggs, bang Texas. C-54 Skymaster là loại máy bay vận tải 4 động cơ cánh quạt, chở được 50 lính vũ trang đầy đủ. Nó có thể bay với vận tốc 440km/giờ ở độ cao 6.700m, tầm hoạt động lên đến 6.400km, một con số ấn tượng vào thời ấy.

Tái khởi động cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích ở Alaska -0
Chiếc C-54 trước ngày mất tích.

Ngày 26/1/1950, chiếc C-54 số đuôi 42-72469 cất cánh từ Anchorage, bang Alaska đến Great Falls, bang Montana với phi hành đoàn 6 người và 38 hành khách gồm 36 quân nhân đã kết thúc thời gian đồn trú ở Alaska cùng 1  phụ nữ với đứa con sơ sinh. Theo quy định vận tải hàng không quân sự lúc ấy, ngoại trừ trẻ sơ sinh còn thì tất cả mọi người trên máy bay đều phải mang dù.

9 giờ sáng 26/1, trung úy cơ trưởng Mike Tisik khởi động máy bay để chuẩn bị cất cánh nhưng động cơ số 3 không nổ. Mãi đến 11 giờ nó mới được sửa xong.

11 giờ 20, chiếc C-54 rời khỏi đường băng sân bay Anchorage. 13 giờ 20, cơ trưởng Mike Tisik gọi về đài kiểm soát không lưu Whitehorse, cho biết máy bay đang bay qua Snag, Yukon và tất cả đều ổn. Thế nhưng từ đó chẳng ai còn nhận được tin tức gì về nó mặc dù theo quy định, cơ trưởng Mike Tisik phải gọi về đài kiểm soát không lưu Alta khi đến vùng trời Aishihik, Yukon.

Thoạt đầu ở Anchorage, người ta cho rằng chiếc C-54 có thể bị hỏng hệ thống truyền tin vô tuyến nhưng đến 21 giờ, sân bay Great Falls, bang Montana thông báo rằng vẫn không thấy chiếc C-54 hạ cánh mặc dù theo lịch trình, nó phải có mặt ở Great Fall lúc 17 giờ 20.

1 giờ sáng ngày 27, Vệ binh quốc gia quận Vimy, Alta gửi báo cáo đến bộ chỉ huy bang Alaska, nội dung một số học sinh ở quận này cho biết lúc 21 giờ ngày 26, chúng đã thấy một chiếc máy bay lớn, bay rất thấp hướng về xa lộ Alaska. Đến sáng, cảnh sát tuần tra đường cao tốc M 635 gần hồ Watson, Alaska,  báo cáo một số dân địa phương nhìn thấy vài quả pháo sáng bắn lên từ phía Tây xa lộ.

Trong những năm cuối Thế chiến II, xa lộ Alaska được mệnh danh là “nghĩa địa máy bay” bởi nhiều chiếc đã bị rơi ở khu vực này khi chở hàng viện trợ cho Liên Xô, hầu hết vì thời tiết xấu. Do đó bộ chỉ huy Phi đội hỗ trợ chiến lược số 1 tin rằng chiếc C-54 có thể đã gặp nạn khi bay qua “nghĩa địa”.

9 giờ sáng 27/1, cuộc tìm kiếm cứu hộ chiếc C-54 được Không quân Mỹ triển khai dưới tên gọi “Chiến dịch Mike” gồm 85 máy bay của Mỹ và Canada cùng hơn 7.000 người, phạm vi tìm kiếm mở rộng đến 65.000 km2. Bên cạnh đó, “Chiến dịch Mike” còn được hỗ trợ bởi 2 sư đoàn Mỹ và Canada cùng các thiết bị quân sự đã được chuyển đến Alaska từ trước để chuẩn bị cho cuộc tập trận Sweetbriar, dự kiến diễn ra vào cuối tháng 1.

Tuy nhiên ngày 27/1 - là ngày bắt đầu triển khai chiến dịch cứu hộ lại là ngày tuyết rơi rất dày nên chỉ có 1/6 trong tổng số 85 máy bay cất cánh. Theo các phi công thì “tầm nhìn gần như bằng không”. Nhiều máy bay C-47 sau nửa giờ bay đã phải quay về do băng tuyết bám đầy trên cánh vì lúc ấy chưa có thiết bị tự làm tan băng, dẫn đến lực nâng giảm, không thể bay tiếp.

Tái khởi động cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích ở Alaska -0
Trung úy cơ trưởng Mike Tisik (phải) trong một chuyến bay trên chiếc C-54.

Chiến dịch Mike và những tổn thất

Trong suốt 3 ngày tiếp theo, việc tìm kiếm vẫn không mang lại kết quả vì thời tiết quá xấu. Đến sáng 30/1 một chiếc C-47 số đuôi 45-1015 thuộc Phi đoàn chiến đấu 57 trong quá trình lượn vòng để quan sát đã bị rơi ở vùng núi McClintoc, gần Whitehorse. 5 trong số 8 người trên máy bay bị thương, phi công phải đi bộ 13 km đến xa lộ Alaska rồi nhờ một xe tải thông báo cho các đơn vị gần nhất. Đến 21 giờ cùng ngày, họ được cứu thoát.

Ngày 2/2, Trung tâm tìm kiếm cứu nạn Chiến dịch Mike nhận được tin báo từ 2 máy bay dân sự và 2 đài phát thanh ở khu vực Yukon, rằng họ đã nghe được những tín hiệu vô tuyến khó hiểu, phát đi từ một sườn núi gần thị trấn Aishihik. Tương tự như vậy, một người dân sống đơn độc cạnh hồ Beaver, vùng British Columbia, Canada, cách xa lộ Alaska 320km về phía Tây cho biết ông ta đã nhìn thấy một chiếc máy bay lớn “bay một cách khó nhọc qua nhà tôi lúc 18 giờ ngày 26/1 ở độ cao rất thấp. Nó lướt qua hồ Beaver rồi khuất sau những đám mây…”.

Ngay lập tức, 5 máy bay của Không quân Hoàng gia Canada được gửi đến. Sau khi bay qua Vancouver, 4 chiếc Cansos và 1 chiếc Lancaster liên tục quần đảo trên vùng trời hồ Beaver suốt 3 tiếng nhưng không phát hiện được gì. Những báo cáo trái ngược đã khiến Không quân Mỹ, Canada phải mở rộng vùng tìm kiếm, gần như toàn bộ bang Alaska và thậm chí đến cả vùng biển Tây Bắc Thái Bình dương. Trung tá Willtake, một trong những sĩ quan chỉ huy cứu hộ cho biết: “Chúng tôi nhận được rất nhiều tin tức. Một nhân viên kiểm lâm ở Yukon cho biết anh ta nhìn thấy một máy bay vào chiều 26/1 bay ở độ cao khoảng 2.000m  gần Minot rồi tiếp theo là một tiếng gầm như thể máy bay rơi xuống, kèm theo tiếng nổ lớn. Một thợ săn nai sừng tấm nói rằng anh ta nhìn thấy môt đám mây khói bốc ở Teslin, cách Whitehorse 230 km về phía Đông Nam. Tuy nhiên các phi công quan sát khẳng định đó chỉ là bụi tuyết bốc lên từ một vết nứt trên sông băng. Ngoài ra  không có bất kỳ một dấu hiệu nào của chiếc C-54 gặp nạn”.

Ngày 7/2, chiếc C-47D số đuôi 45-1037 cất cánh từ căn cứ không quân Eielson tham gia tìm kiếm đã bị rơi trên sườn núi phía nam hồ Aishihik. Trên máy bay có 10 thành viên phi hành đoàn nhưng không ai chết hoặc bị thương. Đến ngày 16/2, một chiếc C-47 của Không quân Hoàng gia Canada số đuôi KJ-936 lại bị rơi gần Snag. May mắn đến thêm một lần nữa, 4 thành viên phi hành đoàn chỉ bị thương nhẹ. 

Ngày 14/2, hoạt động cứu hộ bị đình chỉ vì một máy bay ném bom B-26 mất tích cùng với 1 quả bom hạt nhân Mark-4. Và mặc dù quả bom này không mang theo lõi phóng xạ nhưng sợ nó lọt vào tay người Nga nên tất cả máy bay đang tham gia tìm kiếm chiếc C-54 được lệnh chuyển hướng đến vịnh Alaska, nơi chiếc B-26 được cho là đã rơi xuống. Việc tìm thấy chiếc B-26 chẳng gặp khó khăn gì nhiều.

Ngày 20/2/1950, sau gần 1 tháng tổ chức cứu hộ nhưng không kết quả, chỉ huy Chiến dịch Mike tuyên bố kết thúc. Một thông báo được gửi đến thân nhân của 44 người trên chiếc C-54 và chỉ vắn tắt rằng tất cả những người trên máy bay được xem là đã chết khi thi hành nhiệm vụ, kèm theo đó là lời chia buồn. Theo thống kê, tổng chi phí cho chiến dịch Mike từ 27/1 đến 20/2/1950 là 1 triệu USD (tương  đương 12.800.000 USD hiện nay).

Tái khởi động cuộc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích ở Alaska -0
Ngày 6/2/1950, cha, mẹ và anh chị em của Trung úy Mike Tisik theo dõi cuộc tìm kiếm qua radio.

Những nỗ lực có thể là vô vọng

62 năm sau, tháng 1/2012, thân nhân những người mất tích trên chiếc C-54 gửi bản kiến nghị với hơn 50.000 chữ ký lên Chính phủ Mỹ, đề nghị khôi phục việc tìm kiếm. Bản kiến nghị được Quốc hội chuyển cho Bộ Quốc phòng rồi nơi này lai chuyển cho Bộ Chỉ huy Không quân chiến lược. Phải mất gần 3 tháng, Bộ Chỉ huy Không quân chiến lược mới trả lời cho những người kiến nghị, rằng “đối chiếu những hình ảnh do vệ tinh chụp gần đây và những không ảnh chụp năm 1950, chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều thay đổi về địa hình do sự tan chảy của các núi băng, sông băng nên không có cơ sở để tái khởi động việc tìm kiếm”.

Giữa năm 2020, đạo diễn Andrew Gregg tiến hành thực hiện bộ phim tài liệu về chiếc C-54 mất tích rồi được kênh truyền hình CBS phát sóng ngày 16/1/2022. Bộ phim ngoài việc tái dựng sự biến mất bí ẩn của máy bay cùng những phát biểu của một số nhân chứng, nó còn có ý kiến của các nhà địa chất, nhà sử học, các chuyên gia về băng hà cùng các kỹ sư hàng không. Bộ phim là  tiền đề cho cuộc tìm kiếm chiếc C-54 do thân nhân của cố trung úy phi công Mike Tisik khởi xướng đúng vào ngày máy bay biến mất 26/1/1950 - 26/1/2024.

Theo những người tổ chức tìm kiếm, họ sẽ sử dụng 60 máy bay không người lái, ghi lại hình ảnh của một khu vực rộng hơn 90.000 km2 và nếu phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ, trực thăng hoặc xe trượt tuyết sẽ đưa các chuyên gia đến tận nơi tùy vào địa hình. Craig Anderson, tổng chỉ huy nhóm điều khiển máy bay không người lái nói: “Sau 74 năm, những gì còn lại của máy bay có thể sẽ không còn nguyên vẹn nhưng với nhiệt độ trung bình ở vùng này là âm 20 độ, chúng tôi tin rằng cơ thể hoặc một phần cơ thể của 44 hành khách vẫn được bảo quản tốt bởi lẽ chẳng phải các nhà khảo cổ đã từng tìm thấy thi thể của thổ dân Yakurt bị chôn vùi trong băng tuyết ở Alaska từ hàng trăm năm trước hay sao?”. John Kevin, kỹ sư hàng không thuộc Hãng Boeing nói thêm: “Ngay cả  khi bị nổ tung giữa trời, một số cơ phận của máy bay cũng rất khó tan ra từng mảnh, đặc biệt là động cơ hoặc bộ càng đáp vì nó được chế tạo bằng loại hợp kim siêu cứng, chịu được nhiệt độ cao”. Stella Vilga, người sẽ tròn 80 tuổi vào ngày 1/7 tới đây và cũng là em gái ruột của cố trung úy phi công Tisik nói: “Tôi không muốn gì hơn là được nghe người ta nói với tôi rằng họ vẫn đang tiếp tục tìm kiếm anh trai tôi. Tôi sẽ cố sống đến ngày có được kết quả, dù là sẽ chẳng có gì hết”.

Theo Brent McHale, thành viên tham gia chương trình tái tìm kiếm chiếc C-54, hiện tại họ đã xác định được 3 điểm có khả năng là nơi máy bay rơi: “Hy vọng chúng tôi sẽ tìm được bằng chứng. Đây không phải chỉ để lấy thành tích mà là câu trả lời về một bí ẩn đã kéo dài suốt 74 năm, đồng thời cũng để thân nhân của 44 người trên chiếc C-54 hiểu được điều gì đã xảy ra trong cái ngày định mệnh ấy”.

Thế nhưng, một số chuyên gia cứu nạn hàng không lại tỏ ra bi quan về việc tái tìm kiếm chiếc C-54. Theo họ, có hàng chục lý do để không bao giờ có thể nhìn thấy chiếc máy bay xấu số. Kỹ sư Jack Dalle thuộc hãng Douglass, nơi đã chế tạo ra chiếc C-54 nói: “Giả dụ phi hành đoàn của C-54  mất phương hướng do thời tiết hoặc do động cơ lại gặp sự cố nên phải hạ cánh khẩn cấp xuống một hồ nước đóng băng, vốn có rất nhiều ở vùng Yukon, nằm trên đường bay của nó từ Anchorage đến Great Falls rồi khi hạ cánh, mặt hồ vỡ ra, chiếc máy bay chìm xuống đáy hồ cùng 44 người thì như vậy, việc tìm thấy nó là điều vô vọng…”.

Vũ Cao (Theo History)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.