Saddam Hussein với tình báo Đức

Tác giả bài viết, ông Ali Dogan, nhà nghiên cứu tại Leibniz-Zentrum Moderner Orient (viện nghiên cứu tại Berlin), đồng thời là ứng viên Tiến sĩ ở Viện khoa học chính trị Otto-Suhr (Đức) đã từng viết nhiều tài liệu về trao đổi và hợp tác giữa các cơ quan tình báo CHLB Đức (cũ) và Iraq đã bùng nổ trong suốt sự kiện Chiến tranh Iran-Iraq.

Kênh tình báo CHLB Đức - Iraq

Bắt đầu từ năm 1979 và trải dài xuyên suốt cuộc chiến tranh Iran-Iraq, giới chức tình báo CHLB Đức và Iraq đã xây dựng một kênh truyền thông và đã mang lại hiệu quả trao đổi tình báo thiết thực giữa 2 nước.

Tác giả Ali Dogan hé lộ cách thức như thế nào và tại sao mà mối quan hệ này lại hình thành, cùng những hậu quả mà nó gây ra trong cuộc chiến với Iran. Ngay mùa hè năm 1979, ông Klaus Kinkel, cục trưởng Cục tình báo Liên bang Tây Đức (BND) cùng với quan chức cấp cao của Bộ Nội vụ liên bang, Tiến sĩ Heinrich Boge, thực hiện chuyến công du tới Baghdad. Chuyến thăm bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự thay đổi chế độ Iraq.

Khi đó, ông Saddam Hussein (tân Tổng thống và cũng là người nỗ lực chống cộng sản khi ấy) đã ra tuyên bố rõ ràng rằng sẽ không lâu nữa Iraq không còn phải phụ thuộc Liên Xô để mua thiết bị, chuyên môn công nghệ hoặc tình báo. Tình cảm chống cộng của Saddam cùng với ước muốn thiết lập quan hệ hữu hảo tốt với tình báo Đức đã mở ra một kỷ nguyên mới với quan hệ Đức – Iraq, đánh dấu sự khởi đầu của hợp tác chia sẻ tình báo Đức – Iraq.

43-3.jpg -0
Tổng thống Saddam Hussein với nhà sáng lập Đảng Baath, ông Michel Aflaq, năm 1979. Ảnh nguồn: Alamy.

Ngay từ đầu, những ưu tiên cho mỗi bên rất rõ ràng. Các cơ quan tình báo Iraq tỏ ra rất chú tâm tới thiết bị gián điệp và huấn luyện tình báo ở các trường của BND. Mặt khác, BND cũng rất muốn có được những liên hệ mong muốn với các cơ quan tình báo ở Trung Đông. Việc mua thông tin về các tổ chức khủng bố như Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) và Phái hồng quân (RAF) được coi là thiết yếu với an ninh CHLB Đức trong các thập niên 1970 và 1980.

Vào đầu thập niên 1980, BND đã phái trưởng trạm hợp pháp đầu tiên của mình đến đại sứ quán Tây Đức ở Baghdad, trạm trưởng cũng là sĩ quan liên lạc của BND ở Iraq. Mối quan hệ với Iraq dường như đã được cải thiện trong 5 năm đầu của thời kỳ Saddam.

Cục tình báo Iraq đã nhận suôn sẻ các thiết bị gián điệp của công ty Telemit (Đức), cũng như các sĩ quan Iraq trải qua đào tạo ở những trường của BND ở Bavaria. Trong khi đó, CHLB Đức được hưởng lợi từ mối quan hệ tốt đẹp với một cường quốc ở Trung Đông và nhận thông tin có giá trị về “sào huyệt” của khủng bố RAF.

Cuộc gặp cuối cùng giữa giới chức tình báo cấp cao CHLB Đức và Iraq đã diễn ra trong lần viếng thăm Saadun Shaker (hoặc Shakir), Bộ trưởng Nội vụ Iraq tại CHLB Đức vào tháng 4 năm 1982. Trong cương vị Bộ trưởng Nội vụ, ông Shaker cũng là người đứng đầu cơ quan tình báo nội địa của Iraq (Tổng cục An ninh). Trong lần công tác nước Đức, ông Shaker đã hội kiến Klaus Kinkel và làm trung gian cho một thỏa thuận đào tạo đặc nhiệm Iraq ở Baghdad.

Ông Klaus Kinkel đã liên hệ với một công ty có tên gọi là “Công ty vận tải xuất nhập khẩu Wenzel Hruby GmbH” ở Hamburg, và ký hợp đồng với chuyên gia của GSG9 (đơn vị chống khủng bố và các hoạt động đặc biệt) là Ludwig Heerwagen với mức lương tháng tương đương 18.000 DM. Hợp đồng bí mật này bao gồm việc vận chuyển vũ khí từ Heckler & Koch đến Iraq, nó được ký tá bởi ông Ibrahim S. Ali, một thành viên của mật vụ Iraq. 

Thêm nữa, 2 ông Shaker và Kinkel còn đi đến một thỏa thuận đào tạo các sĩ quan tình báo nội địa Iraq tại BND và Văn phòng cảnh sát hình sự (LKA) ở Bavaria. Các sĩ quan tình báo Iraq được huấn luyện ở trường BND tại Haarsee (Bavaria), còn các chuyên gia trinh sát Iraq thì được đào tạo ở trường công nghệ ở Pocking gần Starnberg.

Các sĩ quan cảnh sát Iraq đã tham dự những khóa học tại LKA ở Munich và các trường cảnh sát ở 2 địa điểm Augsburg và Rosenheim. Những khóa đào tạo này đã đi kèm với cung cấp vũ khí và công nghệ trinh sát viễn thông. Vào cuối chuyến thăm, ông Kinkel đã trao cho người đồng cấp Shaker một số vũ khí của hãng Krausser (Đức) như một dạng quà tặng, cũng như giúp ông có được giấy phép xuất khẩu chính thức những loại vũ khí này. Một tài liệu của Bundesarchiv (Cơ quan lưu trữ liên bang Đức) cũng hé lộ rằng những loại vũ khí của Bộ Nội vụ Iraq đã được sửa chữa tại Đức ngay đầu năm 1984.

Đối với Bộ Ngoại giao liên bang Đức dưới thời ông Hans Dietrich Genscher thì công tác đào tạo các sĩ quan tình báo Iraq đã có “tác động chính trị rộng lớn trong dài hạn, và tác động tích cực đến quan hệ kinh tế đối ngoại”. Mục tiêu huấn luyện các sĩ quan tình báo không chỉ mở ra cơ hội kinh doanh mà còn cung cấp cho chính phủ Đức những liên kết trực tiếp đến nội bộ của chế độ Saddam Hussein.

Bộ lạc Abu Nasr của Saddam là thế lực đang lãnh đạo những tổ chức an ninh cấp nhà nước và chắc chắn là điều tiện lợi cho chính phủ Đức khi có các kết nối cá nhân với bộ lạc này. Tuy vậy thời điểm năm 1984 lại là một bước ngoặt cho bang giao CHLB Đức – Iraq. Năm 1984, báo New York Times viết rằng các công ty Đức “Karl Kolb” và hãng liên kết “Pilot Plant” (Nhà máy thí điểm) đã cung cấp thiết bị để sản xuất thuốc trừ sâu ở Iraq. Núp bóng những nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu này, Iraq đã bí mật phát triển các loại vũ khí hóa, sinh nhằm chống lại Iran và người  Kurd.

Trong khi người Đức chính thức phủ nhận chuyện này (việc phát triển vũ khí hóa, sinh của Iraq) thì việc đó cũng làm rung chuyển mối quan hệ kinh tế, chính trị Đức – Iraq. Tuy vậy, đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Cho đến nay toàn bộ hàng xuất khẩu Đức cho Iraq vẫn chưa được giải phóng. Trong suốt cuộc chiến tranh Iran-Iraq, Tây Đức cũng bán không ít thiết bị quân sự và an ninh cho chính quyền Baghdad, bao gồm công nghệ radar, các thiết bị máy tính và thông tin liên lạc.

Những lô hàng xuất khẩu đã cho thấy các công ty Đức đã tránh khỏi Luật kiểm soát vũ khí chiến tranh Đức (GWWCA)) cả thông qua vận động hành lang để xin giấy phép xuất khẩu, cả xuất khẩu thông qua nước thứ 3. Dù bằng cách nào đi chăng nữa, sự chú ý của công luận đối với xuất khẩu đã làm tăng nhu cầu chính phủ Đức dùng BND như một kênh trở lại bí mật ở Iraq.

43-1.jpg -0
Cục tình báo Liên bang Tây Đức (BND). Ảnh nguồn: Spiegel.

Hoạt động cảu cơ quan tình báo Iraq

Trong suốt thời cầm quyền của chế độ Saddam Hussein, cơ quan tình báo nước ngoài của Iraq (Mukhabarat) cùng các tùy viên quân sự đồn trú ở hải ngoại chính thực ra là những cơ sở thu thập tình báo chủ yếu cho nhà nước Iraq. Trong khi Mukhabarat là diễn viên chính trong hoạt động thu thập tình báo chính trị, thì Tổng cục tình báo quân sự (DGMI) lại chủ yếu tập trung vào các thông tin liên quan đến quân sự, song thi thoảng cũng cung cấp tình báo chính trị cho chính quyền Iraq.

Đối với Mukhabarat thì việc thu thập tình báo hải ngoại bao gồm 3 trụ cột hoạt động chính: Trước hết, có các sĩ quan liên lạc của Mukhabarat, những người này sẽ đóng vai trò là đối tác của cơ quan tình báo tại nước mà họ hoạt động; Thứ hai, có một bộ phận được gọi là sĩ quan trạm pháp lý, những người này kết hợp với sĩ quan liên lạc sẽ đóng trong đại sứ quán; Cuối cùng là một dạng sĩ quan trạm phi pháp, những người này sẽ làm việc bí mật bên ngoài đại sứ quán.

Tại Đức, các sĩ quan liên lạc Iraq sẽ phụ trách việc trao đổi thông tin với BND dựa trên những đề tài khác nhau liên quan đến an ninh. Việc trao đổi sĩ quan liên lạc được bắt đầu từ thập niên 1980. Tác giả bài viết đã lần theo tin tức trên báo chí Đức, chẳng hạn như DPA và nhận thấy rằng ngay mùa hè năm 1993 có thông tin cho thấy Iraq đã nhận thông tin từ một bộ phận đối lập Iraq đang làm việc cho BND. Các sĩ quan trạm pháp lý sẽ đảm trách thu thập tình báo về những chủ đề theo kế hoạch thường niên của Mukhabarat, kế hoạch đó sẽ bao hàm những thông tin chi tiết cho mỗi bộ phận hoạt động trong năm.

Bên cạnh đó, trong khi sĩ quan liên lạc được chính thức xem là đối tác của cơ quan tình báo nước sở tại, thì họ có vỏ bọc như là lãnh sự làm việc trong đại sứ quán Iraq. Nước sở tại cũng không nhất thiết phải biết công việc thực sự của họ là một viên chức tình báo. Trong khi sĩ quan liên lạc và sĩ quan trạm đều biết rằng họ cùng làm việc cho một cơ quan, nhưng người này không hề biết công việc của người kia.

Cả 2 dạng sĩ quan trên cùng hoàn thành các yếu tố theo kế hoạch hàng năm, và chỉ báo cáo kết quả công việc của mình trực tiếp cho các cấp đứng đầu tương ứng tại Baghdad, thông qua những tập tài liệu Telex được mã hóa riêng biệt. Các sĩ quan trạm phi pháp đóng trong các cơ sở của chính phủ Iraq đặt bên ngoài đại sứ quán. Lấy ví dụ như các trường học, các văn phòng hãng bay tại những sân bay như Frankfurt, phòng thương mại, hoặc trong nhiều tòa nhà công ty khác nhau.

Cũng như các sĩ quan trạm pháp lý, những sĩ quan trạm phi pháp cũng làm việc theo kế hoạch hàng năm do Mukhabarat đề ra. Tại một số nước, các trạm phi pháp còn cung cấp chất lượng tình báo tốt hơn các sĩ quan trạm pháp lý và liên lạc. Các trạm pháp lý sẽ đóng trong các đại sứ quán (và trong phần lớn trường hợp) sẽ hoạt động dưới sự giám sát liên tục của các cơ quan tình báo nước sở tại, vì lẽ đó ít có cơ hội thực hiện các kế hoạch chống lại những thành phần bất đồng chính kiến ở hải ngoại.

Sự quan tâm của người Iraq tại CHLB Đức nằm ở nhiều khía cạnh, chẳng hạn như các hoạt động của những nhân vật đối lập Iraq đang sống tại Đức, cùng các công nghệ và chuyên môn của Đức. Cục tình báo hải ngoại Iraq (IFIA) sử dụng sĩ quan liên lạc cũng như các sĩ quan trạm pháp lý (hợp pháp) và phi pháp để theo dõi và “buộc im lặng” những phong trào đối lập chống lại Iraq ở nước ngoài.

Từ các trạm pháp lý và phi pháp, tình báo Iraq đã hình thành một mạng lưới thu thập thông tin khổng lồ, đặc biệt là trong giới sinh viên. Bằng cách dùng 3 trụ cột hoạt động này, Mukhabarat đã thu thập tình báo về những tổ chức đối lập người Kurd và Shia đang định cư tại Đức. Tương tự, Tùy viên quân sự ở Bonn cũng moi thông tin từ các cuộc họp đối lập ở CHLB Đức.

Một tài liệu từ cơ quan tình báo quân đội Iraq cho thấy rằng đã có một số cuộc họp giữa người Kurd và người Iran ở Đức. Tài liệu này cũng trình bày tổng quan chi tiết về những hoạt động của người Iran và sự tham gia của họ với “Phe Talaban” cùng Đảng Shia Dawa của Iraq.

Những bản án “bịt miệng” đáng sợ

Báo cáo có từ tháng 3 năm 1989 đã mô tả những cuộc họp 2 tuần/ lần giữa 3 đảng phái tại những thành phố như Frankfurt và Hamburg, nhưng thường tổ chức ngay bên trong đại sứ quán Iran ở thành phố Bonn. Mục tiêu của Mukhabarat thường là bắt cóc những người bất đồng chính kiến về lại Iraq nhằm giám sát họ kỹ hơn.

Chẳng hạn như vào ngày 7 tháng 11 năm 1982, Tổng cục An ninh Iraq đã báo cáo về một phần tử chống đối người Kurd đã quay lại Iraq sau thông báo tổng đặc xá từ đầu năm đó. Hội đồng An ninh quốc gia Iraq sau đó đã tung ra một chỉ thị chính thức từ ngày 11 tháng 2 năm 1985 nhằm giám sát những người hồi hương kiểu như phần tử người Kurd nọ.

Nếu những người bất đồng chính kiến và các thế lực chống đối người Iraq không quay lại thì sẽ bị quy chụp là “mối đe dọa chế độ”, lúc đó các cơ quan tình báo Iraq sẽ thực hiện những biện pháp mạnh tay hơn để “bịt miệng” họ.

Theo các tài liệu của Bộ An ninh quốc gia CHDC Đức (Stasi) có từ thập niên 1980 thì Bộ tư lệnh cách mạng Iraq (IRC) đã hạ lệnh: “Các đại sứ quán Iraq trên thế giới phải dùng mọi cách để ghi lại, quan sát, và nếu có thể thì phải “vô hiệu hóa” những phần tử cộng sản Iraq, các thế lực chống đối người Kurd, cùng những cá nhân chống lại chế độ Saddam”.

Tới ngày 1 tháng 8 năm 1980, mệnh lệnh trên đã được triển khai bởi 2 quan chức Mukhabarat tại đại sứ quán Iraq ở Đông Berlin. Cả 2 quan chức này cùng lên kế hoạch đánh bom Đại hội sinh viên người Kurd ASTA ở Gesundbrunnen (Tây Berlin).

Bằng cách lợi dụng quyền miễn trừ ngoại giao, 2 người này đã vượt biên giới từ Đông Berlin sang Tây Berlin cùng với 500 gram vật liệu nổ, và đang trù tính giao chiếc va ly chứa thuốc nổ cho người cung cấp tin để người này lẻn vào đại hội. Tuy nhiên, tình báo Syria cũng có những người cung cấp tin trong cộng đồng người Kurd ở Tây Berlin và báo cho BND, cơ quan tình báo này đã cấp báo cho cảnh sát.

Văn Chương (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.