“Quý bà phá mã” Elizebeth Friedman

Dù William Friedman là một trong những tên tuổi “nặng ký” trong giải mã, hay sự thừa nhận của thế giới về công trạng của ông, thì các sử gia đã bỏ qua một thực tế rằng, người vợ của William, bà Elizebeth, cũng đồng thời là một chuyên gia mã hóa cừ khôi. Những thành tựu của bà đã bị bỏ quên dưới ánh đèn sân khấu.

Là một người Mỹ tiên phong trong lĩnh vực mật mã: nghiên cứu cách viết và giải các mật mã, ông William Friedman nổi tiếng trong vai trò của một chuyên gia phá mã cùng với quân đội Mỹ trong suốt 2 cuộc Đại chiến tranh thế giới thứ I và II. Nhưng dù William Friedman là một trong những tên tuổi “nặng ký” trong giải mã, hay sự thừa nhận của thế giới về công trạng của ông, thì các sử gia đã bỏ qua một thực tế rằng, người vợ của William, bà Elizebeth, cũng đồng thời là một chuyên gia mã hóa cừ khôi. Những thành tựu của bà đã bị bỏ quên dưới ánh đèn sân khấu.

Riverbank

Là con út trong số 9 anh chị em trong một gia đình thuộc Hội tôn giáo các tín hữu, Elizebeth Friedman (tên ở nhà là Smith) sinh ra ở vùng nông thôn tiểu bang Indiana vào năm 1892. Mẹ của Elizabeth thường xuyên đánh vần nhầm tên con gái giữa “a” và “e” chỉ bởi vì bà không thích cái biệt danh “Eliza”.

Cô thanh nữ Elizebeth có sắc vóc tươi đẹp, và ngay từ nhỏ đã bộc lộ năng khiếu ngôn ngữ. Cô quyết đi học đại học bất chấp sự chán nản của người cha. Cuối cùng  Elizabeth cũng dừng việc mượn học phí từ cha với lãi suất 6%. Năm 1911, sau khi đến học ở Cao đẳng Wooster, tiểu bang Ohio, Elizabeth đã kết thúc khóa học ở một trường khác là Đại học Hillsdale, Michigan, chuyên ngành tiếng Anh. Bà cũng học tiếng Đức, Hy Lạp và Latin tại Đại học Hillsdale, và cũng ở ngôi trường này mà Elizabeth khám phá ra tình yêu lâu dài với kịch nghệ Shakespeare.

Hai vợ chồng nhà mã hóa William và Elizebeth Friedman. Ảnh: Wikimedia.
Hai vợ chồng nhà mã hóa William và Elizebeth Friedman. Ảnh: Wikimedia.

Sau khi tốt nghiệp Hillsdale, Elizabeth từng có một thời gian ngắn giữ chức hiệu trưởng tạm thời ở một trường trung học Indiana, và đến năm 1916 bà dọn tới Chicago, thăm thú thư viện Newberry, nơi trưng bày bản in đầu tiên của Shakespeare.

Tại thư viện Newberry, Elizabeth đột nhiên muốn dừng chiếc ghế hiệu trưởng nhàm chán, bà hỏi các thủ thư liệu họ có biết bất kỳ công việc nghiên cứu hay văn chương nào để bà dấn thân hay không? Chỉ trong vòng vài phút, Elizabeth đã được giới thiệu cho gặp nhân vật lập dị tên là George Fabyan, người đang điều hành một cơ sở nghiên cứu tư nhân rộng độ 202 ha gọi là Riverbank nằm ở gần Geneva (tiểu bang Illinois).

Thời đó, Fabyan cũng tuyển dụng một học giả khác tên là Elizabeth Wells Gallup. Bà này có một ý tưởng điên rồ muốn chứng minh Sir Francis Bacon mới thật sự là người viết nên các vở kịch chứ không phải Shakespeare(!). Wells Gallup cần một phụ tá nghiên cứu. Và Elizebeth trực chỉ đến Riverbank để tham gia buổi phỏng vấn. Chỉ vài ngày sau đó bà đã trúng tuyển.

Tại Riverbank, Elizebeth đã làm việc với một mật mã mà bà Gallup tuyên bố rằng nó đang ẩn giấu đâu đó trong các bản Xô-nét (bài thơ 14 câu) của Shakespeare và nó chứng minh các vở kịch thuộc quyền của tác giả Sir Francis Bacon. Cơ sở nghiên cứu Riverbank cũng chiêu mộ một nhà khoa học người Nga tên là William Friedman, đó là một nhà di truyền học từng tốt nghiệp Đại học Cornell. Ông này đang nghiên cứu trên lúa mì và cũng rất quan tâm tới kịch Shakespeare.

William và Elizebeth đã phải lòng nhau, họ nên duyên chồng vợ vào tháng 5-1917, tức chỉ 1 tháng sau khi Mỹ bước chân vào Đại chiến tranh thế giới thứ I. Cơ sở Riverbank là một trong những viện nghiên cứu đầu tiên chú trọng vào giải mật, và vào những ngày đầu của cuộc chiến, Bộ chiến tranh Mỹ đã đưa vào Riverbank một cơ chế độc quyền.

Không những làm việc cho Riverbank, hai vợ chồng Friedman thỉnh thoảng còn làm việc cho các chính phủ khác. Sau thư giới thiệu của Bộ tư pháp Mỹ, Sở cảnh sát Đô Thành (Scotland Yard) đã mang một đống thông điệp bí ẩn mà người Anh hoài nghi là chúng dùng để tạo nên một cuộc khởi nghĩa ở Ấn Độ (khi đó nước này là thuộc địa của Anh).

Bằng cách phá các mã được viết theo từng cột số, hai vợ chồng Friedman đã phơi bày cái gọi là “Âm mưu Ấn Độ giáo – Đức” trong đó các nhà hoạt động Ấn Độ giáo ở Mỹ sẽ vận chuyển vũ khí đến Ấn Độ cùng với sự hỗ trợ của người Đức. Vào thời điểm đó, đây là một trong những vụ án lớn nhất và tốn kém nhất ở Mỹ.

Nó kết thúc khá hợp lý khi một vụ nổ súng trong phòng xử án làm chết một trong các bị cáo trước khi người này bị một quân nhân Mỹ bắn gục. Không biết chút gì về công tác giải mã thầm lặng của gia đình Friedman, tay súng tin là bị cáo có tật giật mình.

Hợp đồng quân sự

Thế chiến I kết thúc vào năm 1918, nhưng hai vợ chồng Elizebeth và William vẫn tiếp tục công việc của họ cho quân đội, tới năm 1921, gia đình họ chuyển tới Washington, D.C. để tập trung làm các hợp đồng quân sự toàn thời gian. Elizebeth thích thay đổi môi trường làm việc và đây là lần đầu tiên bà đặt chân tới thủ đô của nước Mỹ. Sau một thời gian làm việc cho Hải quân Mỹ, bà ngừng việc để tập trung vào nhiệm vụ nuôi 2 đứa con là Barbara và John.

Khoảng năm 1925, lực lượng tuần duyên Mỹ gọi điện tới nhà đề nghị Elizabeth chung tay với họ cùng giải quyết trường hợp mang biệt danh “Cấm rượu”. Chẳng mấy chốc bà đã bẻ khóa thành công các thông điệp vô tuyến được sử dụng bởi những tay buôn rượu lậu quốc tế - những người này đã ngụy trang rượu trong các lô hàng trang sức, nước hoa và thậm chí cả đậu Pinto. Elizabeth trở thành “bảo vật” cho lực lượng tuần duyên Mỹ trong suốt thời kỳ “Cấm rượu”. Năm 1933, bà đã giải mã thành công tiến tới đưa ra tòa xét xử vụ buôn rượu lậu trong vịnh Mexico và Bờ biển Tây nước Mỹ với trị giá hàng triệu USD.

Trong suốt 2 năm, Elizabeth và các cộng sự đắc lực của bà đã can thiệp và giải mật các tần số phát sóng vô tuyến từ 4 nhà máy chưng cất rượu lậu ở New Orleans. Trợ lý đặc biệt của Tổng chưởng lý Mỹ - Đại tá Amos W. Woodcock sau này đã  viết về Elizebeth với sự thán phục khôn tả. Chỉ 1 năm sau đó, Elizebeth lại lập được công lớn cho lực lượng tuần duyên Mỹ, vụ này liên quan đến một chiếc tàu mang cờ Canada bị Mỹ đánh chìm sau khi từ chối nhận tín hiệu “tiến lên và tìm kiếm”.

Sau khi Canada đệ đơn kiện Mỹ đòi bồi thường số tiền tổn thất 380.000 USD gồm thiệt hại của tàu và hàng hóa trên nó (có cả rượu), thì bà Elizebeth đã đến để giải nguy: Bà đã phân tích tỉ mỉ 23 thông điệp riêng biệt được mã hóa từ con tàu và chứng minh nó thật sự là của một trùm rượu lậu người Mỹ và treo trá hình lá cờ Canada.

Cáo buộc của Canada chống Mỹ đã được loại bỏ, bản thân Canada rất ấn tượng với tài phá mã phi thường của bà Elizebeth và đề nghị phía Mỹ cho “mượn” Elizabeth để giúp Canada đối phó với hoạt động buôn lậu thuốc phiện của đám giang hồ Trung Quốc và bà đã lập nên 5 chiến công vang dội. Không chỉ phá mã để kiếm sống theo các đơn đặt hàng mà hai vợ chồng nhà Friedman còn lấy nó trong các thú vui hàng ngày bằng cách tạo dựng nên một tình yêu kỳ lạ dựa trên việc phá những mã hóc búa.

Cơ sở nghiên cứu tư nhân Riverbank của nhà nghiên cứu George Fabyan ở Geneva, Illinois, Mỹ. Ảnh: Alion Science and Technology.
Cơ sở nghiên cứu tư nhân Riverbank của nhà nghiên cứu George Fabyan ở Geneva, Illinois, Mỹ. Ảnh: Alion Science and Technology.

Trong các cuộc họp gia đình, hai vợ chồng thường để lại mật mã truyền thông điệp cho các con, và họ cũng phát triển ra những hình thức giao tiếp bằng mật mã với những người bạn thân thiết của mình. Họ hay tổ chức các dạ tiệc mà thực đơn đều được mã hóa và khách khứa muốn ăn uống thì buộc phải nghĩ cách giải được những câu đố này.

Điệp viên

Khi Thế chiến II bắt đầu, Elizebeth làm việc trong vai trò của một điều phối viên thông tin, một dịch vụ tình báo phục vụ cho Cục tình báo chiến lược OSS, là cơ quan tiền thân của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA). Trong khi ông xã William đã giành được chiến thắng trong việc phá mã của Cỗ máy mã hóa tím của Nhật Bản – một khám phá vang dội cho phép Chính phủ Mỹ quyền tiếp cận các thông tin ngoại giao trước khi diễn ra vụ đánh bom Trân Châu Cảng, thì những thành công của bà xã Elizebeth lại ít được công bố.

Thực vậy các nhà nghiên cứu đã mô tả cái mà họ gọi là “đụng bức tường gạch” khi muốn tìm thêm nhiều chi tiết hơn về các hoạt động trong thời chiến của bà Elizabeth. Còn theo ông Jason Fagone, tác giả quyển sách mới phát hành gần đây mang tựa đề “Quý bà phá mã” thì bà Elizebeth từng cộng tác với FBI chuyên trách săn lùng các điệp viên Đức, phá các mật mã Đức và làm việc chặt chẽ với tình báo Anh nhằm phá hủy vòng gián điệp của trục phát xít. J. Edgar Hoover từng ca ngợi bà Elizabeth là “một thợ phá mã tuyệt mật và hoàn toàn xứng đáng với kỳ tài của mình”.

Một trong những nhiệm vụ thành công mà Elizebeth từng làm việc cho FBI có liên quan đến “Vụ án bà búp bê” vào năm 1944. Vụ này đề cập đến Velvalee Dickinson, một đại lý bán búp bê ở New York City. Bà này bị kết tội làm gián điệp cho chính quyền phát xít Nhật Bản lúc bấy giờ. Elizebeth đã giúp chứng minh các lá thư được cho là do Dickinson viết, song kỳ thực nó lại mô tả chính xác vị trí các con tàu Mỹ và các tin tức chiến tranh nhạy cảm khác, và những tin tức kiểu này có nguy cơ sẽ rơi vào tay của giới chức trục phát xít. Mặc dù báo chí thời kỳ đó đăng ầm ầm các bài viết về vụ Dickinson với hàng tít “Nữ điệp viên chiến tranh số 1” cùng những đoạn tin được phá mã “của các nhà mật mã FBI”, nhưng tuyệt nhiên cái tên Elizebeth bị giấu nhẹm.

Một bức thư được cho là do nữ gián điệp Velvalee Dickinson viết đã tiết lộ thông tin về các tàu chiến và tin tức chiến tranh Mỹ, được bà Elizabeth Friedman giải mã. Ảnh: Howling Fixel.
Một bức thư được cho là do nữ gián điệp Velvalee Dickinson viết đã tiết lộ thông tin về các tàu chiến và tin tức chiến tranh Mỹ, được bà Elizabeth Friedman giải mã. Ảnh: Howling Fixel.

Bà Elizebeth về hưu vào năm 1946, tức chỉ 1 năm sau khi Thế chiến II kết thúc, và ông xã William cùng về hưu trong năm này. Năm 1957, sau nhiều năm nghiên cứu, vợ chồng họ đã cùng công bố kiệt tác “Phúc khảo mật mã của Shakespeare” và đã đoạt được vô số giải thưởng từ các cơ sở nghiên cứu về Shakespeare. Trái ngược với giả thuyết của bà Wells Gallup, hai vợ chồng nhà Friedman phủ nhận rằng Sir Francis Bacon chưa từng viết bất kỳ tác phẩm nào như Shakespeare đã làm.

Sau khi ông William qua đời vào năm 1969, bà Elizebeth giành toàn bộ thời gian cuối đời để theo đuổi công việc còn dang dở của ông xã về mật mã, hơn là “tự sướng” với các thành tựu đã đạt được trong đời. Công sức miệt mài của bà Elizabeth đã được đền đáp xứng đáng bằng việc ra đời Thư viện nghiên cứu George C. Marshall, cái tên này được đặt theo tên của Thống tướng lục quân Hoa Kỳ.

Năm 1980, ngay trong ngày lễ Halloween, bà Elizebeth đã qua đời và được an táng ngay bên cạnh ông xã ở nghĩa trang quốc gia Arlington (Virginia, Mỹ). Trên bia mộ của vợ chồng họ không phải là những câu thơ của William Shakespeare mà là lời ai điếu của Sir Francis Bacon: “Kiến thức là sức mạnh”, kỳ thực nó cũng là một mật mã mà khi đọc lên thành "WFF" là tên viết tắt của William Friedman!

Văn Chương (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.