Từ thập niên 70 của thế kỷ trước trở lại đây, một thế hệ các nhà triết học mới của Pháp đã lại làm cho những tư tưởng của "Chủ nghĩa hậu hiện đại" trở nên hấp dẫn, sinh động, tạo ra một không khí hồ hởi, phấn khích, cởi mở cho nhiều lối suy nghĩ mới, mặc dù những tư tưởng về "Chủ nghĩa hậu hiện đại" này đã được gợi mở từ rất lâu ở E. Kant - nhà triết học được mệnh danh là triết gia của mọi thời đại và rõ ràng hơn ở những nhà triết học có gốc gác từ quê hương ông mãi sau này như M.Horkheimer, H.G.Gadamer, K.Feyerabend, T.Kuhn… và quan trọng hơn cả là M.Heideônger.
Nhưng chỉ đến khi những tư tưởng triết học này được đào sâu, khơi rộng, khám phá ra từ nhiều hướng, nhiều chiều ở các triết gia Pháp như: J.Lacan, P.Ricoeur, M.Foucault, J.F.Lyotard, G.Deleuuze, J.Derrida… mới làm cho những tư tưởng của triết học hậu hiện đại có một bước ngoặt ngoạn mục, lan tỏa đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Và như chúng ta thấy những khái niệm, những cụm từ "Chủ nghĩa hậu hiện đại" (Post-modernisme), "Giải cấu trúc" (Deconstruction), "Thông diễn học" (Heméneutique) đã trở thành những câu nói cửa miệng, thời danh nhất đối với giới trí thức và những người quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần nghệ thuật của thời đại ngày nay.
Khi nói đến triết học hậu hiện đại, thuyết về giải cấu trúc (Deconstruction) của J.Derrida là một trong số lý thuyết được những nhà nghiên cứu triết học, mỹ học quan tâm bàn luận nhiều. Thuyết giải cấu trúc của J.Derrida có thể được coi như là một phương pháp, hay là một kỹ thuật, một thủ thuật để phân tích cấu trúc những văn bản.
Xét ở lý luận ngôn ngữ, theo J.Derrida "cái biểu hiện" (ký hiệu - ngôn ngữ) và "cái được biểu hiện" (ý nghĩa nội dung) không bao giờ có sự trùng khít nhau như tấm gương phản chiếu hình ảnh mà luôn có những "sự lệch", "sự chênh" và biến đổi tùy lúc, tùy thời và ngữ cảnh (Le contexte), nên ông phủ nhận những luận điểm của các nhà ngôn ngữ học cho rằng: "Cái biểu hiện" (ký hiệu - ngôn ngữ - chữ viết tắt) và "cái được biểu hiện" (nội dung - ý nghĩa) có quan hệ chặt chẽ với nhau như hai mặt của một tờ giấy hay chúng có quan hệ tự nhiên gắn kết, cố định, bất động.
Thực tế và kinh nghiệm cho ta thấy rằng khi chuyển những nhận biết, những suy nghĩ, những tư tưởng, những quan niệm, những tình cảm… vào chữ viết (ký hiệu) đã không bao giờ nói hết được, thậm chí đúng được những điều ta muốn biểu đạt để làm ta thỏa mãn. Một câu nói nổi tiếng của J.Derrida cho nhận xét này mà nhiều nhà nghiên cứu thường hay trích dẫn "Des qu'il est saisi par L'écriture, le concept est cuit" (đại ý: ngay sau khi dùng chữ viết để thể hiện, khái niệm đã bị sơ cứng - Nguyên văn: bị phá hỏng, bị nấu chín).
Vì vậy J.Derrida cho rằng ý nghĩa không thể hiện tức thời ở những ký hiệu (ngôn ngữ - chữ viết). Hiểu theo một cách nào đó: ý nghĩa (thực sự đầy đủ) luôn vắng mặt ở những ký hiệu biểu đạt mà những ý nghĩa hiện ra một cách phân tán theo chuỗi các biểu hiện (ký hiệu) chứ không bao giờ hiện diện đầy đủ ở một ký hiệu duy nhất nào. Vì thế, việc chú giải các văn bản luôn luôn là công việc tối cần thiết để có thể hiểu được chúng một cách sâu sắc, đa dạng, phong phú hơn.
Và thực chất của việc chú giải các văn bản không có gì khác hơn là sự truy tìm những "sự lệch", những "sự chênh", những "sự vắng mặt", những "sự ẩn giấu" của ý nghĩa với những ký hiệu biểu đạt chúng. Để làm được điều này J.Derrida đã đưa ra kỹ thuật "tẩy xóa" (Sous rature).
Do ý nghĩa và ký hiệu không bao giờ đồng nhất hoàn toàn, cũng không bao giờ đứng yên, cố định mà luôn thay đổi theo hoàn cảnh, thời điểm (ngữ cảnh) nên cần phải "tẩy xóa" những ý nghĩa cũ để đưa vào, chua thêm những ý nghĩa mới trong ký hiệu biểu đạt. Phải hiểu "tẩy xóa" không phải là sự phủ định ý nghĩa cũ mà chỉ là "gạch đít", "đánh dấu?" nghi ngờ để rồi bổ sung thêm những ý nghĩa mới cho đầy đủ. Song hành với công việc này là thay thế các ký hiệu mới.
Quá trình này theo J.Derrida là một vòng xoay vô tận, diễn ra không có hồi kết giữa "cái được biểu hiện" (nội dung - ý nghĩa) và "cái biểu hiện" (ký hiệu), có diễn biến như vậy là do thực trạng của xã hội, của đời sống, của thời đại, của kinh nghiệm, của lịch sử, của văn hóa, của tôn giáo, của tâm tính, của những ước muốn… của mỗi cá nhân con người ở những không gian, thời gian khác nhau đưa đến những cách hiểu, cách chú giải, giải mã các văn bản rất khác nhau, chứ không tuân theo chuẩn mực, quy pháp, hệ thống duy nhất nào, tức không có sự đồng nhất mà luôn có sự khác nhau (La Différance - chữ của J.Derrida), sự dị biệt để hiểu một văn bản, rộng hơn để hiểu một thực tại, tồn tại.
Như vậy quá trình luân chuyển không có hồi kết này giữa "cái được biểu hiện" (ý nghĩa) và "cái biểu hiện" (ký hiệu) hay nói cách khác, quá trình chú giải là việc ý nghĩa, sẽ nhắm tới một ý nghĩa khác, song hành là ký hiệu sẽ nhắm tới một ký hiệu khác, chung hơn nữa văn bản sẽ nhắm tới một văn bản khác, điều mà ông gọi là "liên văn bản" (intertextualité) để nói đến một khả năng giải mã, chú giải vô tận cho một văn bản vì việc chú giải văn bản luôn phải "để lại", "rời lại" phải "triển hạn lại" vào những tương lai tiếp theo (chẳng hạn văn bản Truyện Kiều của Nguyễn Du - không thể chỉ chú giải một lần là xong, sẽ chấm dứt ở người bình giải, chú giải đầu tiên về văn bản này, mà sẽ còn được chú giải, giải mã ở những người tiếp sau với nhiều cách hiểu khác nhau và không bao giờ có hồi kết). Nói về những khả năng chú giải vô tận cho một văn bản, J.Derrida còn cho rằng, chìa khóa văn bản ngay bản thân tác giả của nó cũng không thể chắc chắn nắm được.
Điều quan trọng nhất mà J.Derrida muốn nhắm tới để nói với chúng ta rằng, cái quan niệm của truyền thống duy lý phương Tây cho là mục tiêu của trí thức luôn trùng khít với các phương tiện của nó chỉ là một mong muốn duy lý trí, và niềm tin đầy lạc quan, ngạo mạn vào sức mạnh của lý trí sáng suốt sẽ là "cây đũa thần" giải quyết được mọi điều chỉ là ảo tưởng, bởi lẽ, theo ông, phương tiện (ký hiệu), mục tiêu (ý nghĩa) không bao giờ có thể đồng nhất, trùng khít với nhau.
M.Heidegger là triết gia mà J.Derrida cùng những nhà triết học hậu hiện đại của Pháp chịu ảnh hưởng nhiều ở lý luận nhận thức cũng như chú giải học đã từng chỉ ra rằng, để tiếp cận nhận thức tồn tại, con người phải nhờ đến sự trung gian của ngôn ngữ của khái niệm, nhưng mỗi cá nhân con người do có những kinh nghiệm, những ý tưởng, những mong muốn… và ở trong những ngữ cảnh khác nhau nên có những sự hiểu biết về tồn tại theo những khả năng phóng chiếu (projection) khác nhau vào tồn tại và khả năng này là những dự án bất tận ở con người.
Mặt khác ông cũng nêu rõ: Hiện thể (sự vật, hiện tượng, văn bản… - thế giới khách quan - tồn tại) bộc lộ nhiều ý nghĩa khác nhau và không có ý nghĩa nào là sai và không có giá trị, nên cần khắc phục những tư duy siêu hình về nhận thức cũng như về chú giải học.
Tóm lại nhận thức luận cũng như chú giải học của triết học hậu hiện đại phê phán mạnh mẽ việc quá câu nệ, quá đề cao sức mạnh của lý trí sáng suốt, đã dẫn đến cách xem xét, nhìn nhận thuần túy khoa học luôn phải dựa vào sự rạch ròi, rõ ràng, thẳng tắp, chuẩn mực, tính quy luật, tính hệ thống, tính phổ quát, vào trật tự, cấp bậc… để đánh giá, hiểu biết mọi điều - tức chỉ tiến hành cứng nhắc theo cách thức của chủ nghĩa quy giản (Réductionism) nên đã phạm vào sai lầm: đã gạt bỏ, đã loại thải, đã không tính đến những gì là khác biệt, dị biệt, không giống, không đúng với khuôn mẫu của những thước đo ấy, mặc dù những cái, những thứ bị xếp vào diện "vắng mặt" này, vẫn có những giá trị, những điểm quan trọng vẫn có ý nghĩa, vẫn có những liên quan đến tồn tại chung.
Lý thuyết "giải cấu trúc" cũng ảnh hưởng tới trào lưu "phê bình mới" ở Pháp và phương Tây, đã khích lệ, đã cấp cho những nhà phê bình văn học theo trào lưu này (đặc biệt là nhánh phê bình theo ngôn ngữ học hay gọi là ký hiệu học (Sémiotique) thêm niềm tin và sự quyết tâm đổi mới ngành phê bình văn học. Những nhà phê bình mới này thấy lối phê bình truyền thống đã quá cổ cũ, nhàm chán và sáo mòn.
Phê bình văn học nghệ thuật vẫn chỉ quẩn quanh theo lối cũ như những thế kỷ trước, vẫn là những công thức "con người - tác phẩm", "thời đại - tác phẩm"… vì quan niệm rằng tác phẩm của nhà văn, của nghệ sĩ bộc lộ rõ chân dung của họ, thời đại của họ hoặc thời đại mà họ viết trong tác phẩm cho nên đã bỏ nhiều thời gian, công sức tìm hiểu tiểu sử cá nhân tác giả với mọi nỗi thăng trầm, những câu chuyện, những giai thoại, rồi những điều kiện, hoàn cảnh, những vấn đề của thời đại liên quan trong tác phẩm.
Những nội dung này nhiều khi là trọng tâm, là phần quan trọng nhất của công việc nghiên cứu phê bình mà theo các nhà phê bình mới, đó là những cái "ngoài văn bản", trong khi nhiệm vụ chính của nhà phê bình là tìm hiểu, khám phá "văn bản". Họ nói phê bình theo lối truyền thống thực ra cũng tìm hiểu những ý nghĩa của từ "văn bản", nhưng với việc phê bình theo những công thức đã định đặt ra như vậy nên mới chỉ khám phá được những ý nghĩa bộc lộ nằm ở phía trên, ở những bề mặt của "văn bản", còn những ý nghĩa nằm sâu ở những tầng phía dưới thì không nắm được.
Điều này do xuất phát từ quan niệm cho rằng ngôn ngữ "ký hiệu" luôn phản ánh rõ, đúng ý nghĩa mà nó biểu lộ và như vậy mới chỉ chú ý tới tính một chiều của ngôn ngữ. Thực tế văn bản của những tác phẩm là một hệ thống những ký hiệu văn chương.
Nhiều tác phẩm được xây dựng từ các nhà thơ, nhà văn ở cả lúc có ý thức cũng như trong vô thức, ở trong cõi thực cũng như trong cõi mơ, ở trong trạng thái tỉnh cũng như lúc say, thậm chí trong lúc điên loạn, mê sảng… cho nên trong nhiều văn bản văn học không chỉ chứa đựng những điều có lý, có thực mà cả những điều phi lý, phi hiện thực huyền ảo, mơ hồ, u mê và bí ẩn.
Tóm lại là những văn bản chứa nhiều tầng ý nghĩa cần đến những khả năng, năng lực chú giải, giải mã của nhà phê bình. Với quan niệm mới: nhà phê bình không chỉ là những người "ăn theo" tác phẩm, mà sẽ phải là những "Le coeuteur" (đồng tác giả) của tác phẩm.
Và với điều mà J.Derrida đã nói: Chìa khóa của văn bản nhiều khi tác giả của nó cũng không chắc chắn nắm được cũng như điều mà ông gọi là "liên văn bản" chính là những kết quả sáng tạo vô tận của nhà phê bình, của người đọc văn chương