Phó nháy nghiệp dư

Chẳng hiểu duyên cớ từ đâu mà ở xứ tôi nói tới một số nghề phụ, người ta lại gắn thêm một chữ “phó” đằng trước. Ví như nghề thợ mộc gọi là “phó mộc”; cắt tóc gọi là “phó cạo”; may quần áo, gọi là “phó may”; nghề chụp ảnh, gọi là “phó nháy”… Tôi thuộc lớp hậu sinh, tò te tý nghề nhiếp ảnh, nên tự phong cho mình là “phó nháy nghiệp dư”…

Đối với tôi, môn nghệ thuật nhiếp ảnh, nôm na gọi là nghề nhiếp ảnh, từ thuở còn đang cắp sách ở trường làng cho tới nay, mãi mãi là một nghề sang trọng. Cái nghề một thời đã từng kén chọn người chơi đến kiêu kỳ, thách đố… Đối với lũ trẻ con nhà nghèo chúng tôi ở thôn quê, hầu như không có đứa nào dám bén mảng tới, dù chỉ một lần được có mặt trong khuôn hình cũng là điều mơ ước viển vông, không tưởng!

Thuở ấy chúng tôi đi xem chụp ảnh

Làng La Phẩm của tôi xưa thuộc tổng Thanh Lạng, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, một làng quê nghèo nằm bên bờ sông Hồng, cách phố Phủ 9 cây số, cách thị xã chừng hai chục cây. Cả phố Phủ chỉ có một hiệu ảnh. Ở thị xã có bao nhiêu, tôi mù tịt. Bởi tới năm 18 tuổi vào bộ đội mà tôi chưa một lần được về thị xã. Và, tôi dám chắc rằng, cả làng La Phẩm tôi trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chưa có một công dân nào được đứng trong khuôn hình nhiếp ảnh. Bởi thế, mỗi khi nghe tiếng xe “bình bịch” (xe máy) là biết ngay có thợ ảnh từ thị xã về làng (gọi là chụp ảnh dạo), lũ trẻ chúng tôi í ới gọi nhau đi xem. Đuổi theo đến vã mồ hôi mà chẳng lần nào được tận mắt xem người ta chụp ảnh. Mãi tới năm tôi lên mười tuổi, nhân đám cưới của chú Chí tôi với thím Hoành, hai nhà thuộc diện khấm khá trong làng, chú tôi lại đang theo học tú tài nhất (năm thứ nhất tú tài), nên ông đã mời thợ ảnh từ thị xã về.

Phó nháy nghiệp dư ảnh 1
Trinh sát kỹ thuật cụm TB H67 tại Bến Tre năm 1973.

Thú thật, đó là lần đầu tiên trong đời tôi được xem một đám cưới sang trọng, chú rể diện comlê, cô dâu mặc áo dài tân thời, người thợ ảnh cũng diện đồ tây trắng toát, mũ phớt cũng trắng toát. Tôi như bị hớp hồn trước chiếc máy ảnh đeo trước ngực người thợ. Hai ngày sau, nghe tiếng xe “bình bịch”, tôi tót sang nhà chú tôi, giữa lúc mọi người đang xúm đông quanh chiếc bàn ở góc sân. Tôi cố len vào, bỗng khẽ reo lên trong lòng - “Đẹp quá! Chú thím tôi đẹp quá!...”. Đó là những bức ảnh đầu tiên trong đời tôi được nhìn thấy.

Điều không ngờ tới

Năm 1961, tôi trúng tuyển bộ đội, vào lính pháo binh. Gần 4 năm gắn bó với núi rừng Tây Bắc. Chuyển ngành về Tỉnh ủy Sơn Tây rồi được cử đi học lớp nghiệp vụ do Văn phòng Trung ương mở để đi công tác Sứ quán ta ở nước ngoài. Lớp học có hơn 200 người. Sau đợt Mỹ ném bom miền Bắc và đưa quân vào chiến trường miền Nam, lớp lính cũ chúng tôi đồng loạt xung phong tái ngũ. Tôi là một trong số hơn 30 người được cục II (Tình báo quân đội) tuyển chọn, huấn luyện để đưa vào chiến trường “B”.

Tôi và Nguyễn Văn Giai (sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng Tình báo) được đưa về huấn luyện tại một ngôi nhà “mật” ở phố Hàng Bè. Các thầy dạy nghiệp vụ đều ở trong thành Hoàng Diệu. Cứ một thầy, hai trò cho tới hết khóa học.

Buổi học đầu tiên, anh Long (cán bộ trực tiếp phụ trách chúng tôi) đưa tới gặp một thầy và vào đề: “Các đồng chí tập trung tinh thần học cấp tốc một số môn cơ bản của ngành. Môn đầu tiên có ý nghĩa thiết thực mà sau này các đồng chí thường xuyên sử dụng. Vì vậy, thời gian sẽ ưu tiên nhiều hơn. Đó là môn Nhiếp ảnh…”.

Trái tim tôi như muốn vượt khỏi lồng ngực. Thật là điều không ngờ tới. Ký ức tuổi thơ vụt trở lại. Không hiểu trời run rủi thế nào mà “cái nghề sang trọng” ấy bỗng chốc lại đến với tôi. Cứ như là chuyện khoa học viễn tưởng! Có lẽ vì thế mà môn học này tôi tiếp thu “hơi bị” nhanh. Chỉ sau 2 tuần lễ, từ một người mù tịt về nhiếp ảnh, chúng tôi có thể làm ra được một bức ảnh hẳn hoi với bao công đoạn. Từ cầm máy, mở máy, lắp phim, điều chỉnh cự ly, ánh sáng, bấm máy, tua phim, tháo phim… rồi phương pháp chụp chân dung, phong cảnh, chụp tài liệu… cho tới pha thuốc hiện hình, giữ hình, tráng phim trong buồng tối, tráng phim ban ngày trong túi đen, rồi sấy phim, in ảnh, phóng ảnh, sấy ảnh, đọc phim tài liệu qua kính lúp… Chừng ấy thứ, đối với một nhiếp ảnh gia thì chẳng có gì đáng nói. Song, đối với chúng tôi hồi đó thì quả là kỳ công, tuyệt hảo.

Những bức ảnh thời chinh chiến

Phó nháy nghiệp dư ảnh 2
H67 triển khai kế hoạch chống càn (1972).

Ấy là tôi muốn nói tới những bức ảnh của đám nghiệp dư chúng tôi. Không dám mảy may so sánh với các nghệ sĩ, chiến sĩ cầm máy vượt qua lửa đạn để có những bức ảnh sống động trong các trận đánh của bộ đội ta.

Mười năm ở chiến trường Nam Bộ (1965-1975) tôi đã công tác, chiến đấu ở 3 cụm tình báo chiến lược (B48, B49, H67) với tên gọi là Khổng Thái Dương. Phương án vào hoạt động hợp pháp tại Sài Gòn không thực hiện được dẫu rằng tôi đã được tổ chức chuẩn bị rất chu đáo về mặt thủ tục: Với họ tên giả là Đỗ Văn Nga (đội lốt lính pháo binh thuộc Sư đoàn 7) với thẻ căn cước của chế độ Sài Gòn, giấy khám sức khỏe với lời phê của đốc tờ “cho giải ngũ vì bệnh yếu tim”. Về cư ngụ tại Lai Khê - Bến Cát - Bình Dương. Với nghề nghiệp Giáo sư bậc Trung học. Cho dù tuổi đời khai tăng tới 7 năm, nhưng nhìn tướng hình dáng bộ thì chẳng che giấu được, lại đúng thời điểm địch tăng cường dồn quân, bắt lính, nên tôi được đưa về công tác tại bộ phận căn cứ. Được lãnh đạo giao trách nhiệm nghiên cứu tin tức từ các lưới điệp báo nội thành để chuyển về Trung tâm; tiếp xúc, cảm hóa để phát triển lực lượng bí mật nội thành; phối hợp với địa phương làm công tác tuyên truyền…

Tin tức từ các lưới điệp viên báo nội thành thời đó gửi về căn cứ qua mấy hình thức: Viết tay được ngụy trang bằng bí số, tiếng lóng; viết tay bằng mực bí mật trên các lề sách, báo; bằng phim ảnh (phim đã tráng hoặc chưa tráng). Những tài liệu nguyên bản, nhiều trang, nội dung quan trọng điệp viên thu được trong các tổ chức của địch, chủ yếu sử dụng hình thức này. Một số chỉ đạo của Cụm cho các điệp viên cũng phải dùng tới phim ảnh. Vì vậy, bộ phận căn cứ của các cụm tình báo phải có cán bộ biết nghề ảnh.

Căn cứ bám trụ của các cụm tình báo, an ninh thời đó thường ở vùng giáp ranh với địch hoặc vùng trọng điểm đánh phá như Củ Chi, nam Bến Cát, Mật khu Bời Lời… Vì vậy, việc làm ảnh cực kỳ khó khăn, chủ yếu thực hiện dưới hầm sâu, đậy nắp kín, đề phòng ánh sáng bất ngờ từ bom, pháo của địch dội xuống sẽ làm hỏng phim.

Để có đầy đủ một bộ đồ nghề dã chiến về ảnh, không phải chuyện dễ dàng. Phải thông qua một cơ sở bí mật nội thành biết nghề này mua sắm, ngụy trang giao cho giao thông viên hợp pháp chuyển dần về căn cứ. Khi thì mấy cuộn phim, tập giấy ảnh; khi thì gói thuốc hiện hình, giữ hình được bọc kỹ, để lẫn trong cái túi thực phẩm, gia vị.

Về ánh sáng khi in và phóng ảnh chúng tôi phải sử dụng đèn pin. Việc sấy ảnh, phải sử dụng bếp than. Tất cả đều thực hiện vào ban đêm. Kể cả thông tin liên lạc về Trung tâm. Bởi ban ngày lo đối phó với càn quét của địch.

Làm ảnh thời đó khó khăn, phức tạp lắm, bởi luôn phải đối phó với tình huống bất trắc xảy ra. Có lần vừa pha thuốc tráng phim xong, bỗng có lệnh phải rời căn cứ gấp, đề phòng địch càn vào. Tôi nhớ, một lần ở miền Đông Nam Bộ, tình huống xảy ra đến thót tim. Có 8 cuộn phim chưa tráng từ nội thành chuyển gấp về. Đó là tài liệu quan trọng do điệp viên thu được từ Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Biết tính chất tài liệu, nên đã tráng phim dưới hầm, tôi vẫn cẩn thận thao tác trong túi đen. Cuộn phim cuối cùng vừa thả vào hộp thuốc định hình thì một loạt pháo từ căn cứ Đồng Dù của địch dội tới làm tung cả miệng hầm của tổ chúng tôi. Dứt đợt pháo, anh em đơn vị lao tới, ánh đèn pin loang loáng, từ dưới hầm, tôi thét lên - “Tắt đèn! Tắt đèn ngay! Chúng tớ vẫn đang sống nhăn, không việc gì đâu”. Rất may, khu vực bếp Hoàng Cầm an toàn, nhờ vậy mới có chỗ sấy phim. Chúng tôi mừng đến rơi nước mắt, bởi cả 8 cuộn phim chất lượng đều tốt.

Ngoài việc sử dụng kỹ thuật ảnh cho công tác nghiệp vụ, đôi khi cũng sử dụng trong sinh hoạt của đơn vị như ngày lễ, tết, đám cưới của anh em… Với tinh thần tiết kiệm từng kiểu ảnh. Ấy là chưa kể đã sử dụng tới “máy tiết kiệm” - một cuộn phim 36 đã chụp được 72 kiểu. Giữa chiến trường ác liệt, đôi uyên ương không áo cưới, không tiệc tùng đình đám, chỉ liên hoan tiệc trà bánh kẹo, nhưng có một tấm ảnh cưới, dẫu chỉ là ảnh trắng đen là hạnh phúc lắm rồi, chẳng ai quan tâm, bình luận về cái khoản nghệ thuật.

Đối với chúng tôi, những bức ảnh thời đó, đã trở thành những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chinh chiến của mình.

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Khổng Minh Dụ

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?