Phát hiện tài năng từ những vần thơ về cái chết của người yêu

Nữ thi sĩ Chile Gabriela Mistral (1889 - 1957) có nhiều năm hoạt động trong ngành giáo dục, từng làm hiệu trưởng nhiều trường trung học. Ngoài ra, có thời kỳ bà còn đảm nhận trọng trách điều hành tòa đại sứ Chile tại các nước Nepal, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Brazil và Mỹ. Bà cũng là thành viên của Ủy ban Văn hóa liên minh các quốc gia, từng được nhận bằng danh dự của nhiều trường đại học. Tuy nhiên, bà nổi tiếng không phải bởi sự nghiệp giáo dục hay ngoại giao, mà bởi thơ văn.

Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có Việt Nam ... Phong cách thơ của bà đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà thơ lớn ở Mỹ Latinh và bà là người đầu tiên của châu lục này vinh hạnh được nhận giải Nobel Văn học.

Gabriela Mistral tên thật là Lucila Godoy de Alcayaga. Nơi cô sinh ra là một thung lũng mướt xanh, luôn vang vọng những bài hát cổ của người thổ dân da đỏ. Cô may mắn có một người mẹ xinh đẹp, hiền từ, bao dung và một người cha có tài thơ ca, luôn hát ru cô bằng những vần thơ tình tứ của chính mình. Song cuộc đời cô cũng nếm trải không ít những bất hạnh, những mất mát, nên khi tự nguyện ghi tên mình vào đội ngũ những người "đổ mồ hôi trên từng con chữ", Gabriela Mistral quyết định chỉ viết về nỗi tha hương và sự trở về, về sự tang tóc và hồi sinh, về niềm tin và sự cứu rỗi của tâm hồn... Viện Hàn lâm Thụy Điển đã vinh danh Gabriela Mistral là "Ca sĩ vĩ đại hát khúc u uẩn ngợi ca tâm hồn con người, đã dâng tặng chúng ta một thứ đồ uống mang hương vị của trái đất và làm dịu đi cơn khát của con tim".

Nỗi u uẩn trong Gabriela Mistral khởi nguồn từ sự rời bỏ của người cha. Mặc dầu đã có một người vợ xinh đẹp, mặc dầu đã tạo dựng cho cô con gái rượu một khu vườn đẹp như cổ tích, nhưng ông vẫn bỏ đi theo "tiếng gọi nơi hoang dã". Trong tột cùng nỗi đau mất mát, năm 16 tuổi, Gabriela Mistral đã tìm đến nàng Thơ. Những vẫn thơ u uẩn, dịu dàng thỉnh thoảng xuất hiện trên một vài tờ báo chưa thật sự để lại được dư âm trong lòng độc giả yêu thi ca. Phải đợi đến khi hai mươi tuổi, khi Gabriela Mistral hứng chịu bi kịch trong tình yêu thì tên tuổi của cô cùng với những bài sonnet về cái chết đã trở nên nổi tiếng trên toàn châu lục, khiến cho nỗi đau mất mát không còn là của riêng cô, mà đã trở thành "tài sản tinh thần của toàn châu lục Mỹ Latinh và của toàn thế giới".

Nữ thi sĩ Gabriela Mistral hồi nhỏ và sau khi được giải Nobel văn học.
Nữ thi sĩ Gabriela Mistral hồi nhỏ và sau khi được giải Nobel văn học.

Câu chuyện tình của Gabriela Mistral giờ đây đã nổi tiếng không chỉ ở  Nam Mỹ, mà được truyền từ nước này đến nước khác. Đó là câu chuyện tình yêu của một cô giáo làng xinh đẹp với một anh công nhân đường sắt tên là Romelio Ureta. Họ yêu nhau đến độ đã làm lễ đính hôn. Cũng giống như rất nhiều cặp tình nhân khác, Gabriela Mistral và Romelio Ureta rất hay cãi vã, mà hầu như cuộc xích mích nào cũng quanh quẩn với chủ đề ghen tuông mù quáng. Gabriela Mistral cho rằng Romelio Ureta không chỉ yêu có một mình cô. Nhưng vì Romelio Ureta là người quá đa cảm, yếu đuối, nên sau một lần cãi nhau kịch liệt với người yêu, anh đã tự sát.

Bàng hoàng, kinh hãi, tuyệt vọng, nhưng Gabriela Mistral không tìm đến cái chết, mà tìm đến nàng Thơ, đẩy đau thương của mình lên... thiên đường - nơi tiếp nhận những tiếng gào khóc thể hiện nỗi đớn đau của những tâm hồn đau khổ. Ba bài sonnet về cái chết của người yêu (Sonnetos de la muerte) liên tục được viết ra từ trái tim rỉ máu, đã được tặng giải Nhất trong cuộc thi thơ Floral Games của Santiago de Chile, năm 1914. Vì ngại rằng những bài thơ tình kia có thể ảnh hưởng không tốt đến nghề dạy học nên Lucila Godoy de Alcayaga đã lấy bút danh là Gabriela Mistral. Đây là sự ghép đặt tên của nhà văn Italia Gabriela de Annunzio và họ của nhà thơ Provence Freederich Mistral (giải Nobel Văn chương năm 1904), là hai người cô ngưỡng mộ nhất.

Trong sonnet về cái chết của người yêu, Gabriela Mistral đã khóc than rằng: "Trong bốn bức tường bê tông lạnh giá/ Không phải cho anh, em sửa lại điều này /Anh sẽ chờ gặp gỡ với em đây/ Giữa ánh sáng, tiếng xạc xào hoa lá/ Em sẽ đặt anh vào chăn chiếu lạ/ Anh của em, trong buốt giá đêm đen/Thành cát bụi, êm hơn cả nôi êm/Trong đất mẹ ngọt ngào anh hãy ngủ/ Em sẽ trộn vào đất phấn hoa hồng/ Cho đến khi trăng trên trời còn thở/ Anh sẽ không cần nỗi sợ, hờn ghen/ Em hạnh phúc, vô tội về với anh/ Bởi từ nay địch tình không còn nữa/ Chỉ còn đây cát bụi của riêng em/ Em sẽ cùng anh ngồi trong hoang vắng/ Hiểu vì sao không đi hết đường mình? Anh đi vào cõi chết giữa ngày xanh/ Và trở nên rõ ràng điều bí ẩn/ Rằng trời sinh em là để cho anh/ Sao anh lại ra đi, chọn cái chết cho mình!". Những tiếng thổn thức, tiếc nuối của một tài thơ trẻ đã biến một bi kịch tầm thường của cuộc sống thường nhật mất đi tính chất cá nhân của nó và bước vào nền văn chương thế giới, khiến cho Gabriela Mistral "trở thành nữ hoàng tâm linh của châu Mỹ Latinh!”.

Tuy nhiên mãi đến năm 1922, tức 8 năm sau khi những bài sonnet về cái chết của người yêu - những bài thơ u sầu nồng thắm đã được truyền tụng khắp Nam Mỹ, Gabriela Mistral mới cho xuất bản tập thơ đầu tay với nhan đề "Tuyệt vọng" (Desonlacion) ở New York, và hai năm sau, tập "Dịu dàng" ra đời. Trong "Tuyệt vọng", âm hưởng của  những bài sonnet về cái chết tiếp tục tuôn trào, nhưng đã mang nội hàm rộng lớn hơn. Những vần thơ của Gabriela Mistral không chỉ nói về nỗi mất mát trong tình yêu đôi lứa, mà còn nói về sự mất mát của người mẹ, khiến cho rất nhiều bà mẹ Mỹ Latinh, trong đó có bà mẹ xinh đẹp của nữ thi sĩ bật khóc khi đọc bài thơ thứ 15 nói về nỗi đau của người mẹ khóc thương đứa con trai không bao giờ cất tiếng khóc chào đời. Còn trong "Dịu dàng", Gabriela Mistral dành tình yêu cho con trẻ, những đối tượng mà nhà thơ luôn hướng tới bằng nhiều cách khác nhau.

Có lẽ không hạnh phúc nào sánh bằng với hạnh phúc của Gabriela Mistral khi bốn ngàn trẻ em Mexico đã đồng thanh hát vang những bài thơ của bà. Khi đó, Gabriela Mistral đã trở thành "Bà mẹ trong lĩnh vực thơ ca"! Cùng trong năm 1922 ấy, bà được Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mexico mời làm cố vấn cho cải cách giáo dục ở đất nước ông. Sau đó, bà trở thành thành viên của Ủy ban Văn hóa Liên minh các quốc gia, rồi trở thành lãnh sự của Chile ở một số nước châu Âu và châu Mỹ. Rõ ràng là thi ca đã rải những viên gạch  vững chắc cho sự nghiệp giáo dục và ngoại giao của Gabriela Mistral, khiến cho tên tuổi của bà trở nên lừng lẫy toàn thế giới.

Năm 1938, tập thơ lớn thứ ba của Gabriela Mistral có nhan đề "Rừng trụi" ra đời. Đối lập với sự cảm động trong "Tuyệt vọng", "Rừng trụi" thể hiện sự bình lặng của vũ trụ bao trùm lên vùng đất Nam Mỹ. "Rừng trụi" là một khu vườn của tuổi thơ, nơi độc giả yêu thi ca được lắng nghe những cuộc trò chuyện thân mật giữa con trẻ với thiên nhiên, với cuộc sống, thấu hiểu sự vò xé trong con tim của nhà thơ trước những bà mẹ phải sống cô đơn, những đứa trẻ sống côi cút, và những tư tưởng, tình cảm của hàng triệu người Mỹ Latinh đang đấu tranh vì tự do, dân chủ.

Trong "Rừng trụi" có một sự pha trộn kỳ lạ giữa thánh ca thiêng liêng với những bài hát thơ ngây dành cho con trẻ, những bài thơ về bánh mì, rượu, muối, ngô và nước, là những thứ dành cho những người đang trong cơn đói khát. Bà đã kế thừa được di sản văn học dân gian của người Indian (thổ dân da đỏ), nắm bắt được cách cảm, cách nghĩ của họ và đã khéo đưa chúng vào trong những thể loại thơ ca truyền thống. Đó chính là nguyên do Viện Hàn lâm Thụy Điển gọi thơ của Gabriela Mistral là "thứ đồ uống mang hương vị của trái đất làm dịu đi cơn khát của con tim. Nó được viết nên từ mùa xuân chạy đuổi theo Sappho trên hòn đảo Hy Lạp và đuổi theo Gabriela Mistral trong thung lũng Elquis, mùa xuân của thơ ca không khi nào khô cạn".

Năm 1942, thơ của Gabriela Mistral được tập hợp lại trong "Hợp tuyển văn thơ Gabriela Mistral" và tập thơ cuối cùng của bà mang tên "Máy ép" (1954), vẫn mang phong cách giản dị, lay động lòng người. Cái vĩ đại của thơ Gabriela Mistral chính là ở chỗ nó đã trở thành biểu tượng cho chí hướng vươn lên của những tâm hồn đầy khát vọng, đã mở đầu một giai đoạn phồn thịnh của thơ ca Mỹ Latinh, với những tên tuổi như Paplo Neruda, Nicolas Guillen... mà nét đặc trưng thống nhất giữa họ là sự quan tâm sâu sắc tới thực tại qua một cách nhìn nhân đạo đối với con người.

Gabriela Mistral mất tại New York năm 1957, thọ 68 tuổi. Thi hài bà đã được quấn cờ Tổ quốc mang về Chile an táng với nghi lễ quốc tang. Trên bia mộ của bà khắc dòng chữ: "Nhân dân thiếu người nghệ sĩ của mình như thể xác thiếu tâm hồn". Thiết nghĩ, đời một người cầm bút, liệu có sự ghi danh nào hiển vinh hơn thế!

Mai Hiền

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.