Phát hiện kinh ngạc về cặp phi hành gia song sinh của NASA

Trong suốt nhiều năm, NASA đã cho tiến hành nghiên cứu sâu rộng về phi hành gia vũ trụ Scott Kelly và người em song sinh của ông là Mark. Cuộc nghiên cứu dài hơi đã thu lại được những kết quả, trong đó có những phát hiện có thể nói là kinh ngạc.

NASA có các kế hoạch lớn cho tương lai của những chuyến bay đưa con người vào vũ trụ. Cơ quan hàng không này đã đề xuất ra các sứ mạng dài hạn đưa con người lên mặt trăng và cuối cùng là đặt chân lên sao Hỏa, và yêu cầu việc sử dụng các tiến bộ về tên lửa và phần cứng về bay vũ trụ.

Nhưng cùng với công nghệ mới, các nhà khoa học đang vật lộn với một câu hỏi quan trọng khác: Liệu bản thân cơ thể con người có thể chịu đựng thời gian lâu dài trong vũ trụ? Một sứ mạng sao Hỏa có thể kéo dài từ 2 đến 3 năm, trong khi các chuyến thám hiểm vũ trụ khác thường kéo dài 6 tháng hoặc ngắn hơn.

Những sứ mạng mở rộng ngoài quỹ đạo trái đất có thể để lại những tác động nguy hiểm về sinh học trong cơ thể các nhà du hành vũ trụ. Để nghiên cứu về ảnh hưởng của vi trọng lực, bức xạ và tình trạng "giam cầm" trong các chuyến bay dài ngày, NASA đã lựa chọn hai anh em sinh đôi Scott và Mark Kelly cho một sứ mạng rất độc đáo.

Hai anh em song sinh đã từng làm phi hành gia và phi công thử nghiệm của NASA. Bản thân Scott được lựa chọn cho sứ mạng thời hạn 1 năm bay tới Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), và để lại người em trai - bản sao di truyền của Scott - xuống trái đất. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng Mark như là một đối tượng kiểm soát nhằm so sánh với bất kỳ sự thay đổi nào ở Scott trong suốt chuyến bay ngoài vũ trụ của ông (kéo dài từ ngày 27 tháng 3 năm 2015 đến ngày 1 tháng 3 năm 2016).

10 nhóm các nhà khoa học đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về sức khỏe và sinh học của cặp song sinh (từ biểu hiện gene, vi khuẩn đường ruột và nhận thức). Một nhóm các nhà khoa học trong số đó đã công bố nghiên cứu của họ theo dạng kiểm tra chéo và dự kiến phát hành ngày hôm 12 tháng 4 năm 2019 trên tờ Science.

Với hơn 80 tác giả tham gia, cuộc nghiên cứu đã đi đến phân tích một chuỗi mở rộng cơ sở dữ liệu được thu thập từ cặp anh em song sinh trong thời hạn diễn ra sứ mạng 1 năm cộng với vài tháng trước và sau sứ mạng. Các kết quả cho thấy cơ thể của ông Scott đã phục hồi nhanh chóng sau 340 ngày bị trầm cảm trong các điều kiện vũ trụ. Các tác giả viết rằng: "Nghiên cứu đã tạo ra một bức tranh chân dung tích hợp về phân tử, tâm sinh lý và những thích ứng hành vi cùng các thách thức cho cơ thể con người trong suốt chuyến bay mở rộng".

Câu hỏi về lão hóa

Một trong 10 nhóm nghiên cứu được dẫn đầu bởi bà Susan Bailey, bà là giáo sư về sinh học ung thư và bức xạ tại Đại học công Colorado (CSU, Mỹ) chuyên tập trung nghiên cứu vào các Telomere (những chiếc mũ bảo vệ phần cuối của các sợi ADN).

Trên trái đất, những Telomere dạng này thường bị cạn kiệt trong suốt cuộc đời của con người khi mỗi vòng sao chép ADN dần dần cách xa chúng. Khi nhóm của GS Susan Bailey phân tích các Telomere trong những tế bào bạch cầu của ông Scott, họ đã phát hiện ra rằng độ dài trung bình của các Telomere trong các tế bào bạch cầu đã gia tăng trong suốt sứ mạng vũ trụ. GS Susan Bailey quả quyết: "Quả là hoàn toàn trái ngược so với những gì chúng ta tưởng tượng. Thực tế rằng, bởi vì tất cả những áp lực độc đáo và sự tiếp xúc với những thứ như vi trọng lực, bức xạ không gian và sự cô lập… đã thật sự làm đẩy nhanh việc Telomere bị mất trong không gian".

Khi Scott quay trở về lại trái đất, nhóm của GS Bailey đã quan sát rằng độ dài trung bình Telomere của ông đã giảm gần bằng với mức độ trước chuyến bay.

Tuy nhiên, ngay sau thời gian bay, đã có một lượng lớn Telomere bị mất hay rút ngắn một cách nghiêm trọng.

Đây là một phát hiện quan trọng: khi Telomere bị rút ngắn và mất mát thì nó thường liên đới với lão hóa và dễ mắc các căn bệnh liên quan đến tuổi tác bao gồm các vấn đề tim mạch và ung thư. Các nhà nghiên cứu vẫn không chắc rằng làm thế nào hay tại sao những Telomere lại thay đổi như thế. Nhóm nghiên cứu hy vọng việc phân tích hoạt động của Telomerase (một loại enzyme giúp mở rộng Telomere nhưng lại ngừng trong hầu hết các tế bào cơ thể người trưởng thành) có thể hiểu ra thứ gì đã được kích hoạt trong chuyến bay không gian của ông Scott.

GS Bailey nhấn mạnh: "Vật liệu mà các nhà nghiên cứu cần lại bị "mất trong vũ trụ". Các mẫu máu được vận chuyển trở lại trái đất trên tàu vũ trụ Soyuz, nhưng hoạt động của Telomerase đã chết khi xuống trái đất, có lẽ là do thay đổi nhiệt độ trong quá trình tái đăng nhập vào bầu khí quyển của trái đất. Tìm hiểu sâu về cơ chế ẩn đằng sau những thay đổi trong và sau chuyến bay vũ trụ sẽ là rất quan trọng, để có cách hiểu thấu đáo hơn về lão hóa có giá trị đối với sức khỏe của "người trần tục".

Biểu hiện gene trong vũ trụ

Các nhà nghiên cứu cũng nghiên cứu về bộ gene của phi hành gia Scott nhằm tìm hiểu biểu hiện gene sẽ như thế nào trong suốt chuyến bay, nhất là trong các tình huống căng thẳng. Nhóm này được dẫn đầu bởi ông Chris Mason, một nhà Di truyền học tại Weill Cornell Medicine, cơ quan chuyên nghiên cứu về các sửa đổi ADN và RNA nhằm báo hiệu sự thích nghi biểu sinh. Họ quan sát một số thay đổi về cách gene biểu hiện, và những biến thể này đã tăng tốc trong vòng 6 tháng cuối của sứ mạng bay vũ trụ.

Bức đồ họa về con đường của Nghiên cứu song sinh từ giai đoạn nghiên cứu đến lúc tích hợp thành một bài báo với sự đồng hành của vài công trình khoa học. Ảnh nguồn: NASA.

Bức đồ họa về con đường của Nghiên cứu song sinh từ giai đoạn nghiên cứu đến lúc tích hợp thành một bài báo với sự đồng hành của vài công trình khoa học. Ảnh nguồn: NASA.

Chúng nhiều hơn gấp 6 lần khi mà những khác biệt trong các biểu hiện gene đã phát sinh trong nửa sau chuyến bay so với thời điểm bắt đầu bay. Ông Chris Mason reo lên: "Những phát hiện thật đáng kinh ngạc! Các biến đổi di truyền đã duy trì hoặc gia tăng cho thấy rằng cơ thể con người tiếp tục thay đổi trong những khoảng thời gian dài của sứ mạng bay". 

Ông Andrew Feinberg, giáo sư và nhà nghiên cứu y khoa tại Đại học Johns Hopkins và các đồng nghiệp đã nghiên cứu về nhóm Methyl (những dấu hiệu hóa học thường báo hiệu các hoạt động thay đổi trong biểu hiện gene) và khám phá ra một lượng biểu sinh đã thay đổi tương tự với cả hai anh em song sinh. Bất chấp một số khác biệt nhỏ, bộ gene của phi hành gia Scott đã hành xử theo cách "không đáng lo ngại", GS Feinberg quả quyết.

Nhà di truyền học Chris Mason nói: "Sau khi sứ mạng bay kết thúc, 90% biểu hiện gene sửa đổi đã trở về lại như thời điểm trước chuyến bay, đây được xem là một dấu hiệu tốt nói rằng cơ thể đã phục hồi sau chuyến bay dài ngày. 10% biểu hiện gene khác (bao gồm hơn 800 gene) sẽ liên quan đến phản hồi miễn dịch và sửa chữa ADN vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện khác nhau trong suốt 6 tháng sau khi Scott quay lại địa cầu”.

Nhà di truyền học Chris Mason giải thích: "Ở một mức độ nào đó, dường như một số góc độ nào đó, các tế bào trong cơ thể có ký ức với chuyện gì đã xảy ra cùng một số thích ứng và hiệu chuẩn lại khi trở lại trái đất".

Ảnh hưởng về chuyến bay trong tâm trí

Một nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về nhận thức và khám phá ra rằng: hiệu suất của Scott trên một chuỗi các bài thử nghiệm nhận thức đã suy giảm sau sứ mạng bay. Ông Mathias Basner, một giáo sư tâm thần học tại Đại học Pennsylvania, và nhóm của mình đã thiết kế một thử nghiệm nhận thức chuyên biệt cho NASA: một loạt 10 nhiệm vụ được vi tính hóa nhằm đo lường các khía cạnh khác nhau về suy nghĩ của các phi hành gia vũ trụ bao gồm nhận thức cảm xúc, nói về rủi ro và sự lưu tâm. Mặc dù các biện pháp trên chuyến bay của Scott đều ổn định, nhưng "hiệu quả nhận thức" hay tốc độ và độ chính xác của ông trong việc hoàn thiện bài kiểm tra đều giảm sút khi quay trở lại trái đất.

Sự suy giảm kéo dài 6 tháng sau chuyến trở về của Scott. Trong khi Scott không hiển thị bất kỳ hiệu ứng nhận thức đáng báo động nào trong suốt chuyến bay vũ trụ dài 1 năm, thì ông lại thể hiện nhiều rắc rối hơn với các bài xét nghiệm sau khi trở về lại môi trường trái đất, so với sự tái điều chỉnh của ông sau sứ mạng 6 tháng từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011.

GS Mathias Basner giải thích: "Các kết quả nhận thức có thể là một "lá cờ đỏ" khi việc lập kế hoạch một số thứ như sứ mạng sao Hỏa, trong suốt thời gian đó các phi hành gia sẽ phải thực hiện một số công việc phức tạp sau khi hạ cánh. Vũ trụ là môi trường rất khắc nghiệt. Chúng tôi luôn muốn các phi hành gia thể hiện tốt nhất bởi vì bất kỳ một lỗi nhỏ nào cũng sẽ tạo ra những thảm họa khôn lường, có thể làm thất bại sứ mạng, tổn thất trang thiết bị và thậm chí cả sinh mạng con người.

Mặc dù nó có khả năng gây ra mức độ suy yếu cao làm ảnh hưởng tới các sứ mạng của những phi hành gia qua đào tạo, và những thay đổi về nhận thức nên được giám sát kỹ trong các sứ mạng tương lai, đặc biệt kể từ khi loài người có khả năng kém trong việc đánh giá tình trạng nhận thức của họ, có khuynh hướng chấp nhận các điều kiện hiện tại của họ ngay cả khi tệ hơn so với trước đó".

Thám hiểm vũ trụ từ cơ thể

Trong suốt phần còn lại cơ thể của Scott, các nhà nghiên cứu đã quan sát những thay đổi khác liên quan đến sứ mạng bay. Trong một nghiên cứu về Microbiome (quần xã vi khuẩn sống trong ruột người), một nhóm các nhà nghiên cứu đã nhận thấy có những tỷ lệ của các loại vi khuẩn khác nhau thay đổi trong 1 năm bay của Scott trong vũ trụ.

Nhìn chung sự đa dạng của vi khuẩn đã giảm đi, tuy nhiên nó cũng là một dấu hiệu tốt cho thấy microbiome vẫn khỏe mạnh. Một nhóm nghiên cứu được dẫn đầu bởi bà Brinda Rana, một nhà nghiên cứu khoa học sức khỏe tại Đại học California San Diego (UCSD) đã phát hiện rằng có vài chất đạm cũng thay đổi trong suốt chuyến bay không gian.

Các mẫu nước tiểu được thu thập từ khi Scott có mặt ở ISS có chứa một mức độ collagen cao. Bà Brinda Rana nhấn mạnh: "Quan sát thứ này cùng với những thay đổi sinh lý (giống như những gì được quan sát trong 2 nhãn cầu và hệ thống mạch máu của Scott) có thể là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang tái cấu trúc.

Các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy mức độ Aquaporin 2 cao. Tuy nhiên, phần lớn những thay đổi được quan sát bởi nhóm của bà Brinda Rana và các nhóm nghiên cứu khác đã biến mất một khi Scott xuống trái đất. Bà Brinda Rana phân tích: "Điều này cho thấy cơ thể đã dẻo dai như thế nào. Cơ thể con người đã nhanh chóng thích ứng như thế nào với các dạng môi trường khác nhau. Một năm trong vũ trụ, cơ thể con người có thể xử lý được".

 Vì nghiên cứu anh em song sinh của NASA chỉ là quy mô nhỏ nên các nhà nghiên cứu đang cảm thấy áp lực khi họ không thể có cái nhìn chung nhất về kết quả, họ không thể chứng minh được mối dây liên hệ trực tiếp giữa chuyến bay không gian và những quan sát. GS Andrew Feinberg và các nhà điều tra khác đã cố gắng tìm hiểu những thay đổi nào đã diễn ra trong suốt sứ mạng bay không gian, nhằm tạo ra một hình dạng chung nhất. NASA đang có các kế hoạch để điền thêm những hiểu biết mới vào bản đồ cơ thể người.

GS Susan Bailey và những nhà nghiên cứu khác sẽ tiếp tục dự án giám sát "10 phi hành gia trong sứ mạng một năm, 10 phi hành gia trong sứ mạng 6 tháng, và 10 phi hành gia trong các sứ mạng từ 2 đến 3 tháng". Dữ liệu sức khỏe sẽ so sánh với những người có mặt trên mặt đất - họ bị cô lập trong cùng thời .gian thử nghiệm, theo một thông cáo báo chí của CSU. Bà Brinda Rana hiện đang nghiên cứu về các đối tượng trên giường ngủ nhằm bắt chước tình trạng không trọng lực. Về phần phi hành gia Scott Kelly, ông đang chuẩn bị cho một sứ mạng bay dài ngày.

Trong cuốn sách viết hồi năm 2017 mang tựa đề "Sự chịu đựng: một năm của tôi trong vũ trụ, một đời khám phá trọn vẹn", ông Scott viết: "Tôi sẽ tiếp tục làm các bài kiểm tra mỗi năm một lần trong suốt cuộc đời của mình. Nó không hề làm phiền tôi, mà rất có giá trị trong việc đóng góp kiến thức cho sự tiến bộ của nhân loại".

Thanh Hải (tổng hợp)

Các tin khác

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

Nếu động cơ hơi nước thúc đẩy cách mạng công nghiệp, Internet mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu thì trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình nền văn minh số của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, công nghệ này cũng bị các tổ chức tội phạm, mạng lưới lừa đảo và các nhóm cực đoan lợi dụng để gia tăng quy mô, mức độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng, gian lận tài chính hay thậm chí là khủng bố.

Cuộc chiến của niềm tin

Cuộc chiến của niềm tin

Có những thứ vũ khí không phát ra tiếng nổ. Nó không để lại hố bom, không làm rung cửa kính, cũng không hiện lên trên bản đồ quân sự. Nhưng, nó âm thầm đi vào điện thoại, bảng tin, nhóm chat, những cuộc tranh luận gia đình và cả lá phiếu của cử tri. Tin giả, trong hình hài mới của thời trí tuệ nhân tạo (AI), đang trở thành một thứ vũ khí như thế.

Phát động cao điểm thi đua 70 ngày đêm lập thành tích xuất sắc chào mừng kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát kinh tế

Những người gác cửa vùng kinh tế Đông bắc

Suốt hơn 45 năm xây dựng và trưởng thành, từ 14 cán bộ, chiến sĩ đầu tiên đến đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh đã lặng lẽ giữ vững trận tuyến bảo vệ nền kinh tế, đấu tranh với tham nhũng, buôn lậu, hàng giả và tội phạm kinh tế, góp phần giữ gìn kỷ cương pháp luật, môi trường đầu tư và sự bình yên của nhân dân đất mỏ.

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Trong thế giới lượng tử, luật chơi của các điệp viên truyền thống hoàn toàn bị phá sản. Hãy tưởng tượng một bức thư mật được viết bằng các hạt ánh sáng. Chỉ cần một cái nhìn lén lút của mật thám, bức thư sẽ ngay lập tức tự hủy và phát tín hiệu báo động về trung tâm đầu não. Đó không phải là phép thuật, đó là Phân phối khóa lượng tử (QKD) - thứ đang giúp Bắc Kinh xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc quốc phòng mà không một siêu máy tính nào của phương Tây có thể giải mã.

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Ma túy đá hay các chất ảo giác, muốn đưa vào cơ thể, người nghiện ngập luôn cần đến những “dụng cụ trung gian” - đó là những chiếc nỏ thủy tinh uốn lượn, những chiếc bình khò tinh vi. Lâu nay, dư luận thường chỉ chú ý đến các đường dây mua bán ma túy mà ít ai biết rằng, phía sau dòng chảy đen tối đó là một thị trường ngầm cung cấp “đồ chơi” cho việc sử dụng ma túy vô cùng béo bở. Những kẻ núp bóng sản xuất, cung cấp các vật dụng này đang trở thành nguồn tiếp tay cho làn sóng tội phạm ma túy biến tướng.

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

Hàng trăm UAV Ukraine tấn công Moscow đã khiến hệ thống phòng không Nga rơi vào tình thế quá tải. Đằng sau đó là một hệ sinh thái UAV tấn công tầm xa đang được Kiev phát triển, với chi phí thấp hơn tên lửa hành trình nhưng đủ sức buộc Moscow phải phân tán, tiêu hao và liên tục điều chỉnh năng lực phòng thủ.

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Đi khám phát hiện không có tinh trùng (vô tinh) người đàn ông bật khóc ngay khi bước ra cửa phòng khám. Anh nghĩ rằng cuộc đời mình không thể có con được nữa. Thất vọng, hoang mang khiến anh sợ làm lỡ duyên của vợ. Trước đây, y học đã nghiên cứu và tìm ra phương pháp nuôi cấy tinh tử thành tinh trùng, mang lại hy vọng có con cho những người đàn ông vô tinh. Nhưng hiện nay, nhờ sự tiến bộ của y học, công nghệ đã “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện được giấc mơ làm cha bằng mổ vi phẫu tinh hoàn tìm tinh trùng.

Đại tá Ngô Thuận Lăng, Trưởng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP Hồ Chí Minh chia sẻ về vụ án.

Điều gì đẩy người trẻ vào vòng lao lý?

Những cuộc gọi, những buổi tư vấn trong vụ án "hợp đồng kỳ nghỉ" không chỉ khiến hàng nghìn người mất tiền mà còn đẩy nhiều nhân viên telesale ngoài 20 tuổi vướng vào vòng lao lý. Đằng sau những bản án là áp lực kiếm tiền, sự thiếu định hướng và những ranh giới pháp lý, đạo đức bị xóa nhòa, khiến không ít người trẻ trở thành mắt xích trong các đường dây lừa đảo.

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Phía sau những tài khoản viral (mức độ nổi tiếng) tạo sóng gây bão trên mạng xã hội, là đội quân đếm like, câu view thời vụ. Ít ai ngờ, chợ like “ảo” và view “ma” này đã tiếp tay cho những chiêu trò lừa đảo tinh vi của tội phạm trên không gian mạng...

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Giữa môi trường tác chiến điện từ ngày càng phức tạp, nơi hàng trăm nguồn phát tín hiệu có thể xuất hiện đồng thời trên chiến trường, quân đội Mỹ đang tìm kiếm những công cụ mới để nâng cao năng lực nhận thức tình huống. Trong nỗ lực đó, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Lục quân Mỹ (ARL) vừa trình diễn một cảm biến lượng tử thế hệ mới có khả năng xác định hướng của trường điện từ tần số vô tuyến trong không gian ba chiều.

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

Chiến trường tương lai có thể không còn được quyết định bởi số lượng UAV, mà bởi khả năng chúng tiếp tục chiến đấu khi bị "làm mù" và "cắt đứt liên lạc". Một công bố mới từ Trung Quốc về thuật toán AI HG-STR đang thu hút sự chú ý của giới quân sự khi tuyên bố giúp bầy UAV tự phối hợp truy tìm mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử phức tạp.

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Tháng 2/2026, khi Palo Alto Networks công bố báo cáo về một chiến dịch gián điệp mạng quy mô toàn cầu, Pete Renals, Giám đốc Chương trình An ninh quốc gia của Unit 42, đã dùng một so sánh rất nặng. Ông nói với Recorded Future News rằng đây có thể là vụ xâm phạm hạ tầng chính phủ toàn cầu nghiêm trọng nhất do một nhóm được nhà nước hậu thuẫn thực hiện kể từ SolarWinds. So sánh ấy không ồn ào. Nhưng ai từng theo dõi SolarWinds năm 2020 đều hiểu nó nặng đến mức nào.

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU dự kiến tham gia sáng kiến chip AI do Mỹ khởi xướng, đánh dấu bước dịch chuyển đáng chú ý trong nỗ lực của phương Tây nhằm kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ chiến lược và kiềm chế tham vọng công nghệ của Trung Quốc.

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Công nghệ điện tử - tự động hóa và trí tuệ nhân tạo phát triển, nhiều sản phẩm viễn tưởng bước ra khỏi phim ảnh để vào đời thực. Tiên phong có gián rít Madagascar “côn trùng người máy” đầu tiên của các nhà khoa học Đức.

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Nhiệm vụ chính của máy bay không người lái MQ-1 Predator là ngăn chặn và tiến hành trinh sát vũ trang chống lại mục tiêu quan trọng, dễ bị phá hủy. Khi không thực hiện nhiệm vụ chính, MQ-1 sẽ cung cấp hoạt động trinh sát, giám sát và xác định mục tiêu để hỗ trợ chỉ huy Lực lượng Liên hợp.

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Một “con bệnh” từ những cánh rừng châu Phi lại trỗi dậy, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự mong manh của an ninh y tế toàn cầu. Virus Ebola, với tỷ lệ tử vong cao và khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đang bùng phát trở lại. Một cuộc chiến mới với ngành y tế thế giới lại bắt đầu.

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Xu hướng đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực quân sự ngày càng tăng, nhưng cơ chế quản lý vẫn chưa rõ ràng. Dù mang lại nhiều lợi ích cho ngành tình báo và hậu cần, việc quá phóng đại năng lực AI dễ đẩy cao căng thẳng toàn cầu và gây ra những sai sót hệ thống. Trước thực trạng đó, bà Jacquelyn Schneider, Giám đốc Sáng kiến Mô phỏng Chiến tranh và Khủng hoảng tại Viện Hoover (Đại học Stanford), nhận định rằng kiểm soát an toàn từ khâu phát triển và nâng cao tư duy phản biện cho quân nhân là giải pháp cốt lõi.