Thaddeus Lowe - cha đẻ khinh khí cầu hiện đại?
Theo tạp chí trực tuyến Cơ khí phổ thông (PMC) Mỹ số đầu tháng 4/2026, cách đây tròn 165 năm, ngày 12/4/1861, những phát súng đầu tiên tại pháo đài Sumter đã châm ngòi cho cuộc Nội chiến Mỹ, cướp đi gần 625.000 sinh mạng. Cũng trong thời gian nói trên, người Mỹ còn chứng kiến một sự kiện khác, đó là sự xuất hiện của khinh khí cầu Enterprise trên bầu trời Cincinnati thuộc bang Ohio vào lúc rạng sáng 20/4/1861.
Cha đẻ khinh ký cầu đầu tiên này là Giáo sư Thaddeus Lowe (tên đầy đủ Thaddeus Sobieski Constantine Lowe). Chuyến bay "định mệnh" của ông từ Cincinnati nhằm mục đích vượt đại dương. Tuy nhiên, do thời tiết xấu phải hạ cánh xuống South Carolina, lúc bấy giờ đã ly khai, và bị quân Confederates (Liên minh miền Nam) bắt giữ vì nghi là gián điệp Union (Liên bang miền Bắc). Mặc dù tên tuổi của Lowe không nổi tiếng như anh em nhà Wright, Amelia Earhart hay Charles Lindbergh, những người định hình lịch sử hàng không thế giới, nhưng tác động của Lowe không hề nhỏ và được lịch sử ghi nhận.
Thaddeus Lowe sinh năm 1832 tại Jefferson Mills, New Hampshire. Ông có mối quan tâm đặc biệt đến khinh khí cầu từ khi trẻ, từng tham gia chương trình biểu diễn lưu động và trở thành người tự chế tạo khinh khí cầu hydro cho riêng mình. Ngoài khinh khí cầu, Lowe còn phát minh ra các trạm xăng di động để giữ cho khinh khí cầu bay lâu hơn trước khi tìm đến hydro.
Lowe qua đời tại Pasadena, California vào năm 1913. Trước khi mất, ông đã viết trong hồi ký như sau: “Mọi phát minh vĩ đại, mọi sự đổi mới trong lịch sử thế giới đều từng bị nhạo báng. Columbus bị tố là kẻ giả mạo; Morse bị gọi là kẻ lập dị; Franklin bị coi là kẻ ngốc; Charles Darwin bị chế là thần kinh thì việc ông bị chế nhạo là điều dễ hiểu” - Lowe viết.
Khinh khí cầu Mỹ hoạt động như thế nào trong Chiến tranh Lạnh?
Theo Thespacereview, đầu tháng 2/2023, quân đội Mỹ đã theo dõi một khinh khí cầu trinh thám của Trung Quốc, được Mỹ đặt tên là Killeen-23 trước khi bắn hạ ngoài khơi bờ biển phía Đông. Theo đánh giá của cộng đồng tình báo Mỹ, Killeen-23 là khinh khí cầu tinh vi có cả radar, kèm các hệ thống thu thập tình báo hiện đại thông qua liên kết vệ tinh.
Khinh khí cầu, máy bay và vệ tinh đã được Mỹ khai thác từ rất lâu. Nhờ công nghệ phát triển, khinh khí cầu được quảng bá như một phương tiện lợi hại, lấp đầy lỗ hổng thu thập thông tin tình báo vệ tinh cho Mỹ.
Trong Nội chiến Mỹ, khinh khí cầu được sử dụng ngay bên ngoài Washington, D.C., để tìm kiếm bằng chứng về việc quân đội Liên minh miền Nam như đề cập. Trong Thế chiến I và II, khinh khí cầu thường xuyên xuất hiện, nhất là để tuần tra chống ngầm ngoài khơi bờ biển Mỹ.
Năm 1952, Tập đoàn RAND đã thực hiện một nghiên cứu chứng minh, khinh khí cầu ở độ cao lớn được trang bị máy ảnh có thể hữu ích cho việc trinh sát ở những nơi máy bay không thể. Đến đầu thế kỷ 20, những cải tiến công nghệ máy bay, khiến khinh khí cầu bị lãng quên. Bằng chứng, trong Thế chiến II, máy bay chiến đấu và ném bom đã được chuyển đổi để thực hiện các nhiệm vụ trinh sát bằng ảnh, tuy nhiên sự ra đời của máy bay phản lực được trang bị máy ảnh cũng không thể thay thế khinh khí cầu trinh sát được.
Khinh khí cầu lại trở nên hấp dẫn cho mục đích tình báo vào cuối thập niên 40. Một dự án có tên Project Mogul được thực hiện từ 1947 đến 1949 và được giải mật năm 1994 cho thấy, dự án tối mật này đã sử dụng các khinh khí cầu mang microphone tầm xa để phát hiện sóng âm từ các vụ thử bom hạt nhân của Liên Xô. Năm 1947, một khinh khí cầu Mogul rơi xuống một trang trại gần Roswell, New Mexico, nảy sinh nhiều thuyết âm mưu về người ngoài hành tinh.
Cũng trong năm 1952, Tập đoàn RAND còn thực hiện một chương trình nghiên cứu tổng thể có tên Dự án Moby Dick, Không quân Mỹ (USAF) và CIA đã phối hợp trong hai chương trình có tên GENETRIX và WS-461L (đôi khi cả 2 được gọi chung là WS-461L) để mang các máy ảnh trinh sát tinh vi trên lãnh thổ Liên Xô.
GENETRIX là kết quả trực tiếp của Dự án Moby Dick. Ban đầu nó được gọi là GRANDSON, đến giữa năm 1955, kế hoạch là mua 3.000 khinh khí cầu, bao gồm 500 khinh khí cầu dự phòng, để phóng với tốc độ 10 chiếc mỗi ngày chính thức được thực hiện. Tải trọng bao gồm hai máy ảnh hướng xuống hai bên với một góc nghiêng nhỏ, được cấp điện bằng pin và hoạt động bằng bộ hẹn giờ, hoàn toàn phụ thuộc vào gió. Mặc dù các khinh khí cầu được cho là quá cao nên Liên Xô khó tấn công vào ban ngày, nhưng chúng lại nguội đi vào ban đêm và chìm xuống thấp hơn nên dễ bị tấn công.
Theo số liệu của USAF, 75% trong số 2.500 khinh khí cầu bay qua Liên Xô, 40% hay 1.000 sẽ được thu hồi. Với con số này sẽ tạo ra khoảng 1,4 triệu bức ảnh thông qua thu hồi. Vào cuối nhiệm vụ, khi đang bay trên Thái Bình Dương, thiết bị mang tải được tách khỏi khinh khí cầu và rơi xuống bằng dù, sau đó được máy bay vận tải C-119 gom trên không bằng cách kéo một sợi cáp vòng có gắn móc vào dây dù. Thiết bị mang tải, cùng với cuộn phim đã được phơi sáng, sau đó sẽ được kéo lên bằng tời. Phim đưa về tổng hành dinh để tráng và phân tích. Cách thu hồi này khá mạo hiểm, nhưng phi công có thể làm tốt, vì vậy USAF đã thuê các nhà thầu sản xuất hàng trăm khinh khí cầu cho chiến dịch bay trinh sát quy mô lớn.
Khinh khí cầu, công cụ lợi hại giúp Mỹ theo dõi các hoạt động quân sự của Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh. (Nguồn: Gw2ru.com)
Ngày 27/12/1955, Tổng thống Eisenhower đã phê duyệt GENETRIX, đến tháng 2/1956, 516 khinh khí cầu GENETRIX đã được phóng đi, bay lên độ cao 16.750 mét. Liên Xô theo dõi chúng trên radar nên chỉ có 44 vật liệu mang theo được thu hồi (ít hơn 9% so với dự báo trước đó là 40%), và chỉ có 32 trong số đó có ảnh chụp được. Hầu hết các bức ảnh là ảnh mây, mặc dù cũng có một số thông tin tình báo được thu thập, đặc biệt là việc phát hiện ra một cơ sở lọc hạt nhân khổng lồ ở Siberia có tên Dodonovo. Liên Xô thu hồi được nhiều khinh khí cầu và ảnh chụp, đồng thời tổ chức một cuộc biểu tình công khai, trưng bày nhiều khinh khí cầu và vật tải bị bắt giữ. Eisenhower đã ra lệnh chấm dứt chương trình.
Vài năm sau GENETRIX, USAF lại thử dùng khinh khí cầu, lần này là chương trình WS-461L. Khác với GENETRIX dùng công nghệ thu hồi trên không, WS-461L lại dùng máy ảnh toàn cảnh. Máy ảnh, được gọi là HYAC (viết tắt của high acuity), quét một ống kính 30 cm qua lại, để lộ một dải phim cong 70mm. Hình ảnh toàn cảnh này có thể bao phủ nhiều diện tích mặt đất hơn bên dưới. Một trong những lợi ích bổ sung của thiết kế là hình ảnh chất lượng cao được tạo ra gần trung tâm của thấu kính, chứ không phải ở các cạnh của nó. Máy ảnh HYAC đã tận dụng điều này bằng cách phơi sáng phim chỉ bằng phần trung tâm của thấu kính. Tải trọng phải được cách nhiệt để chống lại cái lạnh khắc nghiệt ở độ cao lớn.
Vài chục hệ thống máy ảnh WS-461L được ra đời bằng chi phí của CIA. Ngày 25/6/1957, Tổng thống Eisenhower đã phê duyệt các chuyến bay vượt biên đầu tiên và hệ thống không được trang bị bộ hẹn giờ để tránh gây rắc rối, nhưng USAF lại làm trái lệnh, không bỏ bộ hẹn giờ.
Ngày 7/7/1958, ba khinh khí cầu hay quả bóng được phóng từ boong tàu sân bay ở biển Bering. Đến ngày 28/7, chính phủ Ba Lan phàn nàn về một quả mang theo máy ảnh đã rơi xuống miền trung Ba Lan. Ngày hôm sau, Liên Xô phản đối một quả đã bay qua lãnh thổ của họ. Có thể chiếc thứ ba đã được thu hồi ở đâu đó tại Liên Xô. CIA cho rằng vì tải trọng đã được thu hồi, Liên Xô giờ đây đã biết được bí mật thiết kế của máy ảnh toàn cảnh.
Tháng 3/1959, CIA đã đưa ra một đề xuất về “một khinh khí cầu có động cơ làm nền tảng ở độ cao lớn cho các thiết bị thu thập thông tin tình báo”. Sang tới thời Tổng thống Kennedy, ý tưởng khinh khí cầu đã được phục hồi để thu thập tín hiệu từ các cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo của Liên Xô. Năm 1963, CIA tiết lộ một chương trình khinh khí cầu mới có tên ELINT. Khinh khí cầu sẽ mang theo tải trọng nặng 4,5 kg, kích thước khoảng một bộ khối. Thời gian bay tối đa sẽ là 36 giờ, kết thúc ở độ cao 24.400 - 27.400 mét trong giờ ban ngày. Việc phóng được thực hiện từ máy bay chở hàng độ cao từ 3.000 - 9.100 mét.
Đến đầu năm 1964, CIA đã đưa ra đề xuất chính thức để phát triển hệ thống này và được đặt mã là AKINDLE. AKINDLE ra đời xuất phát từ yêu cầu thu thập tín hiệu từ các vụ thử tên lửa đạn đạo của Liên Xô ngay bên trong lãnh thổ Liên Xô, và cả những tiến bộ công nghệ mới trong cả lĩnh vực khinh khí cầu lẫn điện tử. AKINDLE có tải trọng nhỏ bay lên cao đến mức không bao giờ bị phát hiện.
Năm 1964, chương trình AKINDLE gặp phải trở ngại tại Ủy ban 303 và không được cấp ngân sách. Số lượng hạn chế các tài liệu được giải mật về AKINDLE nên đến nay có rất ít chi tiết về dự án này được tiết lộ. Vào cuối thập niên 60, CIA dường như vẫn chưa từ bỏ mối quan tâm đến khinh khí cầu chụp ảnh nhưng do Ủy ban 303 cản đường nên dự án đã giậm chân tại chỗ.
Giờ đây Chiến tranh Lạnh qua đi những vẫn còn để lại một số câu hỏi chưa được giải đáp. Đầu những năm 1980, CIA tập trung vào việc phát triển vũ khí chiến lược khiến Liên Xô bối rối. Ảnh vệ tinh cho thấy Liên Xô đã gắn một tia laser lên đỉnh máy bay vận tải Il-76. Phân tích ban đầu cho thấy máy bay này dùng cho các thử nghiệm chống tên lửa. Nhưng một nguồn tin mật lại cho biết chiếc máy bay này được thiết kế để phá hủy các khinh khí cầu trinh sát của Mỹ. Ngoài ra, Liên Xô còn phát triển máy bay tầm cao M-17 mà sau này một số người gọi là “U-2ski”, nó được trang bị một khẩu pháo trên thân phía trên để bắn hạ các khinh khí cầu trinh sát của Mỹ. Vấn đề theo như phân tích CIA, Mỹ không có khinh khí cầu do thám. Vậy điều gì đã khiến Liên Xô lo lắng đến mức họ phải triển khai vũ khí để chống lại nó?
Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô thường phát triển các hệ thống vũ khí dựa trên sự hiểu sai về mối đe dọa từ Mỹ cũng giống như Mỹ thường làm điều tương tự với Liên Xô. Nhưng theo CIA, sự kiện Killeen-23 diễn ra gần đây lại cho thấy một sự thật khác.