Nước, cát và máu ở rừng ô rô

Khu Lê là nơi ngày xưa nhiều người thân của tôi đã ngã xuống và cũng là nơi ngày nay vẫn còn chứa trong lòng cát và rừng bao điều kỳ diệu…

Anh bạn ở Công an tỉnh Bình Thuận vốn là người quê ở khu Lê Hồng Phong điện thoại báo tin "nước về Khu Lê rồi!…". Nghe giọng như reo. Tôi bật người nhỏm dậy như thể đang nghe bạn tôi nói vừa phát hiện ra hành tinh mới. Theo thiết kế, công trình cấp nước Khu Lê Hồng Phong được đầu tư chủ động phục vụ tưới tiêu cho khoảng 1.000 ha trên địa bàn đang gặp khó khăn về nguồn nước. Điều đó cũng mở ra hy vọng về một màu xanh trù phú nơi vùng khô hạn khi dòng nước mát sắp về cuối năm nay.

Đồi cát ở chiến khu Lê Hồng Phong.
Đồi cát ở chiến khu Lê Hồng Phong. 

Chiến khu Lê Hồng Phong (Khu Lê) trong kháng chiến chống Mỹ có diện tích khoảng 60km2, gồm 6 xã, ngày nay thuộc xã Hòa Thắng và Hồng Phong, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Sau khi đồng chí Tổng Bí thư Đảng Lê Hồng Phong bị địch bắt lần hai tại Phan Thiết, quân dân Bình Thuận ghi nhớ công lao và khâm phục ý chí kiên cường bất khuất của người lãnh tụ cộng sản đã lấy tên ông đặt cho căn cứ địa cách mạng Bình Thuận từ thời kháng Pháp.

Địa hình Khu Lê nằm tại khu vực động cát, rừng cây gai ô rô chằng chịt rất hiểm trở, nhưng rất lợi thế cho bộ đội, du kích ẩn quân, trú ngụ lâu dài. Khu Lê là vùng đồi cát nóng bỏng, vào mùa khô nguồn nước cạn kiệt. Thời chiến tranh, muốn có nước để uống và dùng trong sinh hoạt, quân dân Khu Lê có lúc phải đổi bằng máu. Phải đi hàng giờ leo dốc, cát lún ngập chân mới đưa về căn cứ được một gánh nước.

Ngày đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong một ngày chỉ được cấp nửa lít nước sinh hoạt, khan hiếm như bộ đội Trường Sa những năm 80. Ở khô hạn tận tuyệt, khó tin rằng con người có thể sống trên đồi cát cao gần 30m so với mực nước biển, như một sa mạc hoang hóa. Nhưng Khu Lê đã không bao giờ khuất phục.

Nhiều cuộc càn quét, bao vây của địch kéo dài nhiều tháng trời. Bom đạn ngày nào cũng xối xả trút xuống cánh rừng ô rô của Khu Lê. Nhưng địch đã bị đánh bật ra, nhiều xe tăng, máy bay và bộ binh địch bị loại khỏi vòng chiến. Ông Nguyễn Văn Quý, du kích của Khu Lê nhớ lại: "Giữa sa mạc cát mênh mông chỉ có những tán rừng ô rô và cây xương rồng mới sống được. Chúng tôi không chỉ chiến đấu với bom đạn mà còn với kẻ thù dai dẳng và khắc nghiệt hơn là nguồn nước. Ngày trước, người dân nơi đây từng ví von bằng cụm từ "tắm lửa", do không có nước nên muốn tắm họ cứ đốt lửa trùm khăn cho vã mồ hôi rồi lau khô thế là đã… tắm".

Sống trong vùng hoang mạc thiếu nước, đời sống cơ cực là thế, nhưng không có người dân nào muốn rời bỏ chiến khu ra vùng ấp chiến lược của địch. Để thích nghi, những khu rừng tự nhiên đã có sẵn những thứ giúp con người và muông thú "cầm cự" sống qua mùa khô. Dây giác rừng phủ kín tán chằng chịt thân leo, chỉ cần chặt một khúc khoảng gần một mét có thể hứng được nửa lon sữa bò nước tinh khiết. Khi uống có vị chan chát nhưng có thể "cầm hơi" đỡ khát. Lượng nước tích trong thân của dây giác rất lớn. Các loại cây lá như lá vang, cóc rừng, cò ke, đọt xoay, lá dừng, cà na…có thể nhấm nhá lá, quả có vị chua, kích thích lưỡi tiết nước bọt làm dịu cổ họng khát đắng. Các loại củ dưới đất như khoai rạng, khoai nho, khoai từ, khoai mỡ, khoai mỳ… vừa ăn sống no bụng vừa có nước trong củ. Nếu sau một vài cơn mưa đổ xuống, những người lính sống trong rừng có thể tìm thấy nước đọng trong những bọng cây mục thân, tuy nước chứa đầy loăng quăng nhưng có thể cuộn lá làm ống hút từng giọt đỡ khát.

Đưa nước về chiến khu Lê Hồng Phong.
Đưa nước về chiến khu Lê Hồng Phong.  

Chiến Khu Lê không bao giờ chết khát như kẻ thù đã nghĩ, dù  trong cát, nước có cả máu của các chiến sỹ hy sinh trên đường đi lấy nước về căn cứ. Giữa trưa, cũng là lúc bắt đầu những cơn khát. Khô môi, miệng đắng, lưỡi trở nên nhám nhúa, khô quánh chẳng còn chút nước bọt nào. Bộ đội hành quân thường được bố trí giấu nước trong các bọng cây lớn dọc đường, khi quá khát có thể tìm đâu đó uống qua cơn. Nhưng không phải lúc nào cũng có nước để giấu và cũng có thể tìm thấy.

Những ai từng đến vùng đất cát trắng Khu Lê, hẳn nhớ bài thơ "Phan Thiết có anh tôi" của Hữu Thỉnh xao động lòng người:

Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi
Chính ở đây anh thấy biển lần đầu
Qua cửa hầm
Sau những ngày vượt dốc
Biển thì rộng, căn hầm quá chật
Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai
Trong căn hầm mùi thuốc súng mồ hôi
Tim anh đập không sao ghìm lại được
Gió nồng nàn hơi nước
Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi
Những ngôi sao tìm cách sáng về khuya
Những người lính mở đường đi lấy nước
Họ lách qua những cánh đồi tháng chạp
Trong đoàn người dò dẫm có anh tôi
Biển ùa ra xoắn lấy mọi người
Vì yêu biển mà họ thành sơ hở
Anh tôi mất sau loạt bom tọa độ
Mất chỉ còn cách nước một vài gang…

Bài thơ viết về người lính giữa rừng chiến Khu Lê sáng đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhưng đau đáu trong đó, là những cơn khát nước mùa khô kiệt sức, những khát vọng sâu thẳm về hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, sự nghiệt ngã và khốc liệt của chiến tranh. Nước ở rừng chiến khu năm xưa khan hiếm đến mức người dân trong vùng quen tiết kiệm từng giọt. Khi làm thịt gà, người ta cứ để nguyên con khô như vậy nhổ lông. Nhiều người mãi sau này mới bỏ thói quen nấu cơm không vo gạo.

Người ta chỉ vò gạo khô trên tay nếu gạo xấu, nhiều cám, vảy bẩn. Còn gạo sạch, chỉ cần lượm các vỏ mày trấu sót lại là rót nước vào xâm xấp và nấu. Cán bộ chiến sỹ mùa khô chỉ dùng một lon sữa bò nước, một tuần có thể được tắm một lần, chủ yếu là "tắm lửa"... Nước làm khô héo, cạn kiệt chiến khu Lê Hồng Phong, nhưng dưới mặt đất con người vẫn sống, chiến đấu, lao động, những cây xương rồng vẫn nở hoa và loài dông vẫn chạy xoàn xoạt trên cát mỗi ngày.

Cây ô rô gai ở chiến khu.
Cây ô rô gai ở chiến khu.

Có câu hát: "Rừng ô rô là chiến khu lịch sử/ Nước Bàu Thiêu pha máu đỏ quân thù". Điệp khúc rừng ô rô tồn tại, hoành tráng và hiên ngang giữa vòng vây bốn mặt của đối phương. Phía Đông là biển với tàu chiến, giang thuyền có thể đổ bộ. Tây, Nam, Bắc là đại bác từ Tà Zôn, Ma Lâm, Mương Mán…Vậy mà Khu Lê vẫn bất khả xâm phạm. Kẻ địch cũng sợ thiếu nước. Nếu chẳng may bị quân ta bao vây, chặn đứt lối về, chúng sẽ phải chết khô. Thiên nhiên ban tặng cho toàn đất cát Khu Lê ba bàu nước, nhưng lại đặt không đúng vị trí và không hoàn thành "sứ mệnh" ngay từ tên gọi. Bàu Cạn - đúng nghĩa đen, khi trời dứt mưa, nước cạn. Bàu Thiêu - cũng tiêu nước khi hết mưa, đáy bàu nứt nẻ trắng. Chỉ có Bàu Trắng - có cả Bàu Ông, Bàu Bà - quanh năm tích nước mạch giữa tim động cát, nhưng lại đặt lệch hẳn ngoài vùng ven, cách trung tâm Khu Lê khoảng 20km. Dùng gánh quảy hai thùng nước đi về nếu ở gần cũng trọn buổi, ở xa cũng trọn ngày.

Từ năm 2005 tỉnh Bình Thuận đã triển khai Dự án "Thu trữ nước mưa bằng hồ xi măng đất và vật liệu HDPE kết hợp trồng cây xanh chống sa mạc hoá". Dự án được sự tài trợ của Quỹ Phát triển môi trường toàn cầu Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (GEF/SGP), Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Bình Thuận phối hợp theo dõi và hỗ trợ. Ông Võ Quốc Toàn, một người dân ở vùng sa mạc chiến khu Lê cho biết: "Có nước, trồng cây màu xen rừng cây trôm năm đầu là trên 15 triệu đồng/ha chưa tính thu nhập từ cá nuôi ở các hồ chứa". Ông phấn khởi: "Nếu những vùng đất ở sa mạc như thế này được cải tạo thành đất canh tác, người dân nơi đây không những thoát được nghèo mà còn vươn lên làm giàu vào một ngày không xa".

Chiến khu Lê đã có một hệ thống thu trữ nước mưa trên cát và hệ thống tưới bổ sung vào mùa khô gồm 17 hồ chứa nước lớn và 12 hồ nhỏ; trồng hơn 2.200 cây xoan chịu hạn và 4.500 cây dầu lai. Thành công bước đầu của mô hình là căn cứ khoa học đáng tin cậy cho việc cải tạo, phát triển sinh thái bền vững và cần được nhân rộng cho hơn 52.000 ha đất sa mạc hoang hóa ven biển thuộc 2 xã Hồng Phong và Hòa Thắng. Những vùng đất cằn cỗi đã dần biến mất và thay vào đó là màu xanh bạt ngàn của một sức sống mới.

Hoa xương rồng vẫn có thể nở trên sa mạc, chất anh hùng vẫn không phai trên mảnh đất này… Nước đã đưa về Khu Lê, sẽ làm thay đổi kỳ diệu nơi đây, cả rừng cây Neem chịu hạn bao trùm lấy những hàng cây trôm lấy mủ cho giá trị kinh tế cao, tạo nên một hệ sinh thái bền vững, khí hậu trở nên ôn hòa, mát mẻ. Du lịch sinh thái phát triển, đặc sản biển, con dông cát chiến khu sẽ làm cho kinh tế phát triển nhanh, mạnh và đời sống người dân sẽ khấm khá lên. Chắc chắn cái tên "vùng sa mạc" Chiến khu Lê chỉ còn trong dĩ vãng...

Cây Trôm, Tháng 10/2015

Hoàng Châu

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.