Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa: Ví đây đổi phận làm trai được...

Bộ sách "Những kỷ lục Việt Nam" được NXB Thông tấn ấn hành đầu tháng 11/ 2004 đã chính thức ghi nhận người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết  Quốc ngữ là bà Huỳnh Thị Bảo Hòa, một phụ nữ sinh trưởng trong một gia đình danh gia thế phiệt ở Đà Nẵng.

Trước đấy, vào năm 2003, trong cuốn sách có tên gọi "Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên" in tại NXB Văn học, tác giả Thy Hảo Trương Duy Hy cũng đã cung cấp cho bạn đọc nhiều tư liệu quý về cuộc đời người phụ nữ đặc biệt này. Tới nay, trải qua thời gian, mặc dù đây đó đã có thông tin cho rằng, người viết tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên trong các nữ tác giả Việt Nam không phải Huỳnh Thị Bảo Hòa mà là Đạm Phương nữ sử, thân mẫu của nhà lý luận, phê bình văn học Hải Triều, song không vì thế mà vị thế của người nữ sĩ có nhiều cách tân táo bạo trong địa hạt văn học này không tiếp tục nhận được sự tôn kính của giới văn học sử... Cuộc đời và những đóng góp của bà làm chúng ta nhớ tới hai câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương: "Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu"...

1.Bà Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896-1982) tên khai sinh là Huỳnh Thị Thái, là người làng Đa Phước, Hòa Minh, Hòa Vang (nay là quận Liên Chiểu, Đà Nẵng). Bà là con của một võ quan triều Nguyễn, sau tham gia Hội Cần vương Quảng Nam.

Từ nhỏ, Huỳnh Thị Bảo Hòa đã được học hành chu đáo. Bà học chữ Hán do cụ thân sinh dạy tại nhà, sau đó học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp. Vốn bản tính thông minh, lanh lợi, bà tiếp thu chữ Hán rất nhanh, chỉ trong một thời gian ngắn đã có thể làm được thơ Đường luật. Với việc cắt tóc ngắn và sử dụng xe đạp đi lại trong thành phố, bà được ghi nhận là người phụ nữ có lối sống tân tiến nhất ở địa phương thời bấy giờ, cũng là người phụ nữ đầu tiên của Đà Nẵng sớm thích nghi được với nhịp sống văn minh thành thị. 

Thẻ phóng viên Thực nghiệp dân báo của Huỳnh Thị Bảo Hòa.
Thẻ phóng viên Thực nghiệp dân báo của Huỳnh Thị Bảo Hòa.

Một số nhân chứng cùng thời với Huỳnh Thị Bảo Hòa từng kể lại rằng, Bảo Hòa là một phụ nữ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp cứng cỏi, có cá tính chứ không phải lối yểu điệu thục nữ nơi khuê phòng như người ta vẫn thấy ở các tiểu thư con nhà "lá ngọc cành vàng" thời bấy giờ. "Nước da trắng mịn, sống mũi thẳng, đôi mắt to sáng luôn nhìn như xuyên thấu vào người đối diện, đó là một khuôn mặt toát lên sự thông minh, lanh lẹ và bản lĩnh cao cường" - Nhà nhiếp ảnh Phụng Ký từng nhận xét như vậy về nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa.

Thời kỳ trước cách mạng, Huỳnh Thị Bảo Hòa từng được tín nhiệm cử giữ chức Hội trưởng Hội Phụ nữ Đà Nẵng. Bà đồng thời còn là một trong tốp 7 người phụ nữ đầu tiên ở Đà Nẵng tham gia Nữ công học hội và được cử làm hội trưởng. Với tác phong sôi nổi, Huỳnh Thị Bảo Hòa rất tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội. Bà kêu gọi chị em học chữ Quốc ngữ, đấu tranh đòi nam nữ bình quyền. Bà hướng dẫn chị em quen với lối sống mới. Để giúp chị em biết đi xe đạp, bà đã mang xe của nhà đến Hội để chị em tập. Bà dạy mọi người cách ăn ở sao cho khoa học, vệ sinh. Hội Lạc thiện Tourane và Công quán Tourane (nay là Nhà hát Trưng Vương - Đà Nẵng) từng chứng kiến nhiều buổi bà đăng đàn diễn thuyết, cổ súy cho lối sống văn minh. Với uy tín của mình, khi cần quyên góp tài trợ cho đâu đó, chỉ cần Huỳnh Thị Bảo Hòa cất lời kêu gọi là chị em - nhất là chị em tiểu thương vui vẻ hưởng ứng liền.

Năm 1926, tại Đà Nẵng, Hội Ái hữu cùng với một số người có tài lực, trong đó có nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa đã đứng ra tổ chức trọng thể lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Tinh thần yêu nước của nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa đã được các đảng viên Cộng sản kỳ cựu của thành phố này nhắc lại trong một số bài hồi ức, với ấn tượng đẹp.  

Về chuyện đời tư: Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa kết duyên với một công chức ngành thương chánh - đại học sĩ Vương Khả Lãm. Nét nổi bật trong cuộc sống gia đình của Huỳnh Thị Bảo Hòa là bà rất nghiêm khắc trong giáo dục con cái. Bà chỉnh đốn họ từ mỗi lời ăn, tiếng nói, phải "đi thưa về bẩm". Có trường hợp, dù đã có gia đình rồi song khi mắc lỗi, bà vẫn nọc ra đánh bằng roi. 

2. Theo tài liệu của ông Trương Duy Hy, tác giả cuốn "Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên" thì tiểu thuyết "Tây phương mỹ nhân" của Huỳnh Thị Bảo Hòa gồm 15 hồi, chia làm hai tập, được in tại nhà in Bảo Tồn (36 bis Boulevard Bonnard Sài Gòn) năm 1927, với độ dày cả thảy 76 trang, khuôn khổ 14x20 cm. Bìa sách in hình bán thân một phụ nữ Pháp, cổ đeo một chuỗi hạt trai.

Cuốn tiểu thuyết đã được "nghênh đón" khá rầm rộ, với việc nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng viết lời tựa, thi sĩ Tản Đà viết lời đề tặng, và nhà báo Bùi Thế Mỹ (chủ bút tờ Đông Pháp thời báo) viết lời bạt. Tản Đà nổi tiếng là "ông thần ngông", vậy mà với cuốn tiểu thuyết mỏng mảnh này, đã phải thốt lên rằng: "Bách niên giai lão với một mỹ nhân, đó là người đàn ông An Nam ta... Truyện Tây phương mỹ nhân có trọng giá nhất ở chỗ đó; lại là quyển tiểu thuyết thứ nhất của trong bạn quần thoa mới soạn ra...". Ông chủ bút Bùi Thế Mỹ thậm chí còn tỏ ra "cung kính" hơn, khi tâm sự rằng: "Trong sự xuất bản, tôi xin trái lời dặn của bà Vương Khả Lãm (tức nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa - NV) mà không thêm bớt, sửa đổi một chữ nào, là cố ý không muốn làm mất đi vẻ tự nhiên của một bộ trường thiên tiểu thuyết như bộ Tây phương mỹ nhân này vậy".

Theo như những gì mà Huỳnh Thị Bảo Hòa ghi trên sách, thì đây là bộ tiểu thuyết luân lý, và "Câu chuyện Tây phương mỹ nhân này vốn là chuyện thiệt xảy ra ở xã hội ta", thậm chí, xảy ra ngay tại Tam Kỳ (Quảng Nam) trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

Tác giả Tuệ Lãng, trong một bài nghiên cứu về "Tây sơn mỹ nhân" đã nhận định, mặc dù cuốn tiểu thuyết chứa đựng trong nó tất cả những nhược điểm cơ bản của một cuốn tiểu thuyết ở thời kỳ chuyển giao văn học, như nhân vật theo mô hình đạo đức truyền thống (trọng nghĩa khinh tài); hình thức chưa thoát khỏi nghệ thuật "tiểu thuyết" cổ (cốt truyện được coi trọng hơn vấn đề, hành động được chú ý hơn tâm lý…); ngôn ngữ đậm chất biền ngẫu; tác giả thường xuyên "xông vào" diễn giải, bình luận các sự kiện vv và vv thì cũng vẫn phải khẳng định: "Với việc xây dựng một câu chuyện tình vượt biên giới như Tây phương mỹ nhân, nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa một lần nữa đã làm một cuộc cách mạng trong việc thay đổi nhãn quan văn hóa cho xã hội, xóa bỏ ít nhiều tinh thần dân tộc hẹp hòi, nhìn rộng ra xa hơn cảnh quan của mình để thấy một thế giới khác…, dù chưa chắc là ưu việt nhưng vẫn mới lạ và có quá nhiều điều cần phải suy ngẫm và học tập, trực tiếp đặt vấn đề về mối xung đột giữa dân tộc và văn hóa Pháp đang tồn tại trong xã hội …".

Ngoài vai trò là một trong những phụ nữ đi tiên phong trong lĩnh vực tiểu thuyết (như ở đầu bài đã nói, hiện có ý kiến cho rằng, người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết là Đạm Phương nữ sử, với cuốn tiểu thuyết "Kim Tú Cầu" in trên tạp chí Trung Bắc tân văn từ năm 1923 - tư liệu do nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền khẳng định trên một tờ báo vào năm 2005), Huỳnh Thị Bảo Hòa còn là một ký giả xông xáo, với nhiều bài viết đăng tải trên nhiều tờ báo có uy tín khắp Trung, Nam, Bắc. Bà còn là tác giả của cuốn biên khảo "Chiêm thành lược khảo" từng gây tiếng vang trong dư luận và được đích thân học giả Phạm Quỳnh viết lời tựa; là tác giả kịch bản vở tuồng "Huyền Trân Công Chúa" (đã được dàn dựng năm 1933) và được công chúng hoan nghênh. Ngoài ra, bà còn là tác giả cuốn "Bà Nà du ký" (đăng trên Tạp chí Nam Phong hồi tháng 6/1931), hiện được nhiều nhà nghiên cứu nhắc tới. Cuốn sách đã lưu lại những nét đáng quý của một thời quá vãng. Dẫu đã 80 năm trôi qua, nhưng những dòng chữ đầy cảm xúc mà nữ sĩ viết về một địa danh du lịch hiện vẫn làm xao xuyến và đủ sức mời gọi mọi người…

Đây là một đoạn tác giả kể lại những điều mắt thấy tai nghe qua mấy ngày lên thăm núi "Chúa": "Đương khi lửa hạ nấu nung, ở giữa chỗ bụi lầm xe ngựa, cái thú nước biếc non xanh dễ ai không mơ ước. Chiều chiều đứng trên bờ biển Đà Hải, nhìn làn sóng lao xao, ngọn trào xô đẩy, ngoảnh trông về phía tây núi non trùng điệp, đối ngọn Hoành Sơn, thấy một trái núi cao ngất mấy tầng, chót núi như đụng mây xanh, chung quanh thì núi nhỏ xúm xít như đàn con chầu mẹ; núi này đại danh là núi "Chúa", vì núi "Chúa" có nhiều thắng cảnh và thời tiết khí hậu lại có phần đặc biệt lắm. Mùa đông mây ủ như tuyết sa băng đóng, mùa hè mát mẻ êm đềm như xuân phong hòa khí, cảnh sắc tuyệt trần, không nơi nào sánh kịp"...

Nguyễn An Định

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.