Nón vẫn thơ, sông La vẫn chảy…

Công chúng yêu thích âm nhạc hẳn biết đến một bài hát nổi tiếng có tên "Gửi em chiếc nón bài thơ" mà mở đầu là những lời ca thật dễ thương, được chuyển tải bằng một giai điệu rất ngọt ngào, mượt mà, đậm phong vị dân ca: "Anh gửi cho em chiếc nón bài thơ xứ Nghệ/ Mang hình bóng quê hương/ Lợp vào đây trăm mến ngàn thương…".

Tên tác giả có thể nhiều người nghe chưa quen nhưng bài hát trên thì từ lâu đã có đời sống bền vững trong lòng công chúng. Ngoài ra, ông còn có một bài hát nữa cũng rất quen biết. Đó là bài "Gửi sông La" cũng dạt dào âm hưởng dân gian: "Ơ! Dòng sông La/ Ơi niềm thương, nỗi nhớ/ Em biết từ lâu quê hương anh nơi đó…".

Bản thân tôi khi chưa đến sông La, nghe bài hát đã rất yêu cảnh Hà Tĩnh nên thơ và người Hà Tĩnh đằm thắm. Hai bài hát này đã khẳng định vị trí xứng đáng của ông trong làng nhạc Việt Nam. Ông là Lê Việt Hòa, sinh năm 1935, quê Sơn Tây, mất năm 2014, hưởng thọ 79 tuổi. Gần như cả đời ông làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam (nhạc công đàn tỳ bà, rồi ghi ta. Sau khi học xong đại học âm nhạc, làm biên tập viên). Ngoài hai bài hát nổi tiếng trên, ông còn có một số bài khá nổi tiếng như "Rừng Hà Tuyên quê em", "Cô gái Na Hang", "Mùa xuân sông Tô"…và một số tiểu phẩm khí nhạc. Tuy nhiên, lĩnh vực ông sở trường vẫn là ca khúc.

Sáng tạo nghệ thuật là một lĩnh vực thần diệu. Số lượng tác phẩm nếu không đi liền với chất lượng thẩm mỹ thì không nói lên được điều gì ngoài sự chịu khó làm việc và ít nhiều hạn chế về tài năng của chủ thể sáng tạo.

Nhạc sỹ Lê Việt Hòa.
Nhạc sỹ Lê Việt Hòa.

Rất may là Lê Việt Hòa có được hai bài vừa nói, đã đóng một chiếc đinh 10 phân khá chắc chắn vào tâm khảm người nghe. Những nhạc sỹ làm việc ở Ban biên tập Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam có thuận lợi hơn các nhạc sỹ khác không công tác ở đây là luôn được các cơ sở, địa phương, mời đi thâm nhập thực tế sáng tác, bởi một thời gian rất dài, trước khi có sự bung ra, nở rộ của các làn sóng truyền hình và các clip, đĩa nhạc như hiện nay thì làn sóng âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn là nơi gần như độc tôn trong việc tuyên truyền tác phẩm.

Vậy nên các nhạc sỹ ở Đài thường viết và thu thanh rất nhiều. Thuận lợi đặc biệt này đồng thời lại là "con dao hai lưỡi" vì số lượng thì quá nhiều, trong khi chất lượng dễ không tương xứng. Trước khi hai bài hát trên xuất hiện, tôi từng nghe loáng thoáng cái tên Lê Việt Hòa ở trên đài. Nhưng chưa để ý. Rồi mỗi lần lui tới Ban Biên tập Âm nhạc - nơi ông làm việc - để gửi sáng tác, tôi được diện kiến ông. Cũng vẫn chưa có gì đáng nhớ về một con người trầm tính, trông ít chất "nghệ".

Rồi một ngày kia, trên làn sóng bỗng vang lên: "Anh gửi cho em chiếc nón bài thơ xứ Nghệ…", ngay từ lần nghe đầu tiên, tôi đã bị cuốn hút vào một giai điệu đẹp, uyển chuyển, sâu lắng, đậm đà phong vị dân gian nhưng nghe rất mới mẻ.

Cũng là một người sáng tác nhưng khi đó mới chỉ là những bước đi ban đầu, tôi thực sự nể tác giả và coi "Gửi em…" như một ca khúc mẫu mực đáng để mình tham khảo, học tập, nhất là biết rõ tác giả hình thành ca khúc từ một bài thơ của nhà văn Sơn Tùng quê ở Nghệ An. Đọc bài thơ này mới thấy Lê Việt Hòa thật tài tình trong việc chuyển sang bài hát mà nếu không biết, cứ nghĩ nhạc sỹ làm cả phần lời, bởi sự thoát hẳn ra kết cấu và lời lẽ của bài thơ.

Trong bài thơ của mình, nhà văn Sơn Tùng nói về mối quan hệ kết nghĩa gắn bó giữa Nghệ An và Quảng Ngãi. Bài thơ đậm màu sắc chính trị gắn với sự kiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng nhạc sỹ đã nhào nặn thành một ca khúc trữ tình, chính xác hơn là một bài tình ca, đem đến cho nó một giá trị vĩnh hằng bởi chủ đề này, nếu có giá trị nghệ thuật sẽ trường tồn vĩnh cửu.

Tuy nhiên, rất khéo léo, Lê Việt Hòa vẫn để lại một dấu mốc trong ca khúc của mình về ngày trọng đại của dân tộc. Đó là câu: "Nón bài thơ, em đội nón bài thơ đi đón ngày hội mới". Chỉ cần nói thế là người nghe đủ hiểu, không cần phải như một nhạc sỹ nọ, khi duyệt bài này đã đề nghị tác giả nói rõ "ngày hội mới" là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng tác giả đã kiên quyết bảo lưu ý mình.

Ông kể lại là khi ấy đã nói: "Đó là ý nghĩ của tôi, còn nếu các vị thấy không ổn thì bỏ, tôi đành chấp nhận chứ không thể sửa". Sau đó, có người cho rằng Lê Việt Hòa bảo thủ. Nhưng cũng may là vẫn còn người ủng hộ ông. Thế là "Gửi em…" vượt qua được sự kiểm duyệt của cả một hội đồng mà trong đó có những thành viên vẫn còn nặng ý nghĩ giáo điều, máy móc.

Về sự ra đời bài hát "Gửi em…", có lần, tôi được Lê Việt Hòa tâm sự đôi điều liên quan. Ông có mối tình khá lãng mạn với một cô gái ở Sơn Tây, sau đó nên duyên chồng vợ. Giữa những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt, cơ quan ông sơ tán ở Thái Nguyên. Mỗi lần về thăm vợ, ông phải đi xe đạp vượt qua chặng đường dài từ Thái Nguyên về Hà Nội, rồi lên Sơn Tây. Nhiều khi về hôm trước, hôm sau phải đi ngay để kịp làm việc.

Thế rồi do bận rộn, đi lại quá diệu vợi, có một dạo ông về thăm vợ thưa thớt. Người nhạc sỹ ngày đó đang ở độ tuổi hơn 30, đang dồi dào, sung mãn, lại đàn hát lai láng, cộng với bản tính người nghệ sỹ vốn không giỏi giữ mình nên đã không tránh được sự hiểu lầm từ phía "bà xã". Hạnh phúc của ông bà khi ấy từng có lúc "cơm không lành, canh chẳng ngọt".

Vợ chồng nhạc sỹ Lê Việt Hòa.
Vợ chồng nhạc sỹ Lê Việt Hòa.

Nhưng sự "trục trặc"chỉ kéo dài một thời gian. Cả hai người sau đó đều nhận ra không thể thiếu nhau, nhất là cùng thương đứa con khi ấy còn nhỏ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì nó nên cuối cùng đâu lại vào đấy. Vợ chồng Lê Việt Hòa lại hát bài … "Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay". Và từ bài thơ của Sơn Tùng, ông tạo nên bài hát "Gửi em…" còn với ý muốn gửi gắm đến người vợ rất đỗi yêu quý của mình lời tâm niệm về tình yêu, hạnh phúc, trong đó lòng chung thủy, son sắt luôn cần được đề cao lên hàng đầu: "…Nước dưới sông có khi đầy khi cạn/ Trăng trên trời có khi tỏ khi mờ/ Tình đôi ta từ bấy đến giờ/ Vẹn tròn như chiếc nón bài thơ…".

Lê Việt Hòa, trong mắt của bè bạn, đồng nghiệp là một người đàn ông nghiêm túc trong lĩnh vực…liên quan đến phụ nữ. Tôi từng có dịp cùng đi sáng tác với ông tại các địa phương thì thấy ông chỉ cặm cụi ghi chép, thai nghén rồi "chửa, đẻ" tác phẩm chứ chưa thấy ông dùng dắng, sa đà vào những chỗ có các bóng hồng bao giờ.

Trong sáng tác, Lê Việt Hòa thích tạo cho mình phong cách dân gian bằng việc tìm về những giá trị truyền thống hơn là hoàn toàn hiện đại. Và ông đã thành công ở hai ca khúc đã có dịp nhắc đến. Lúc đầu, khi nghe hai bài hát này, chưa biết rõ về gốc gác tác giả, lại nhìn ngoại hình, tôi cứ nghĩ ông quê ở Nghệ An. Vì cả hai bài đều thắm đượm chất liệu dân ca xứ sở này. Tôi đoán rằng phải quê trong đó mới đậm đặc chất liệu Nghệ - Tĩnh trong cả hai bài như thế. Sau này mới biết mình nhầm. Ông quê ở xứ Đoài, đồng hương với nhà thơ Quang Dũng - tác giả bài thơ "Tây tiến" nổi tiếng.

Lê Việt Hòa thuộc dạng hướng nội. Ông có tính cách kín đáo, khiêm nhường và làm thường hiệu quả hơn nói. Ông xuề xòa, mộc mạc, không chải chuốt cả về trang phục lẫn lời ăn tiếng nói. Mới tiếp xúc, dễ không mấy thú vị bởi ông không có những lời nói, ứng xử làm đẹp lòng người khác. Thậm chí nhiều người còn dễ dị ứng với cách góp ý nhiều khi thiếu tế nhị, có phần "thẳng ruột ngựa" của ông.

Một lần, một nhạc sỹ đồng nghiệp hát cho chúng tôi nghe một ca khúc vừa sáng tác và đề nghị chúng tôi nói cảm nghĩ. Bài hát nhạt, không có hiệu quả. Tôi chưa nói gì, Lê Việt Hòa đã không đắn đo,  nói luôn: "Ông vất bài này đi, làm lại nếu muốn giữ chút uy tín". Nhạc sỹ kia tự ái, cũng chẳng còn tế nhị mà đốp luôn: "Ông là nhạc sỹ mà tai chẳng khác mấy… tai trâu". Nhưng nếu chơi lâu, trở nên thân thiết, gần gũi thì thấy ông đáng quý bởi tấm lòng chân tình và khá cởi mở.

Một lần đi sáng tác cùng ông, thấy tôi viết nhanh, sớm hoàn thành sáng tác, trong khi thời gian còn nhiều, ông chân thành góp ý: "Này! Cậu đừng dại tiết lộ tác phẩm vội. Họ sẽ cho rằng chúng mình làm ăn dễ quá. Cứ nghiền ngẫm, gọt giũa cho đến ngày cuối cùng, không thừa…". Số là có lần, khi trả tiền tác phẩm cho các nhạc sỹ, một kế toán ở một địa phương nọ thấy chúng tôi đến và làm việc trong có vài ngày đã "trả" được tác phẩm bèn thốt lên với người thủ trưởng: "Họ chỉ có mấy ngày mà lĩnh khoản tiền bằng mấy tháng lương tụi em". Từ đó, cánh nhạc sỹ thường dặn nhau đừng hoàn thành tác phẩm sớm quá, dẫu có cái đầu siêu đến đâu!

Lê Việt Hòa đã ra đi. Chúng ta mãi mãi thiếu vắng ông. Nhưng những chiếc nón bài thơ vẫn còn đó, vẫn mãi đẹp và dòng sông La vẫn không bao giờ ngừng tuôn như những giai điệu của ông vẫn mãi chảy trong tâm khảm người nghe.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.