Đậm chất Harvard
Henry Alfred Kissinger (tên khai sinh Heinz Alfred Kissinger), một trong những người Mỹ nổi tiếng nhất thế kỷ XX và cũng là nhân vật được nhắc tới nhiều nhất trong danh sách 100 trí thức hàng đầu thế giới, lại sinh ra tại thành phố Furth (Đức) trong thời gian tồn tại của nước cộng hòa Weimar. Nơi đây rất gần địa danh Nuremberg mà về sau sẽ đi vào lịch sử vì là nơi mở phiên toà xét xử những tên trùm phát xít sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc.
Cha của Henry Kissinger là một giáo viên phổ thông, luôn tự hào vì mình là một người Đức gốc Do Thái rất có tính tự tôn. Người mẹ đã truyền cho cậu con trai tính tình hơi rụt rè nhưng rất chăm chỉ cách sống thực tế và một trí tuệ sắc sảo, hóm hỉnh. Khi cậu bé Henry lên 10 cũng là lúc lực lượng phát xít chiếm được chính quyền ở Đức. Để tránh tai họa rất dễ giáng xuống những người gốc Do Thái, năm 15 tuổi, theo lời của mẹ, Henry Kissinger đã di cư sang Mỹ, tới New York. Và ngày 19/6/1943, ông đã trở thành công dân Mỹ 100%. Cũng trong năm 1943, sau một thời gian ngắn làm việc trong nhà máy sản xuất bọt cạo râu, Kissinger đã gia nhập quân đội và phục vụ trong ngành tình báo tới năm 1949.
Năm 1950, Kissinger đã tốt nghiệp Đại học Harvard. Tiếp theo, nhà ngoại giao tương lai đã hoàn thành luận án thạc sĩ, rồi năm 1954, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đây. Chủ đề luận án của ông ta về sau cũng là tên cuốn sách đầu tay Một thế giới được khôi phục lại: Matternich, Kastlereagh và những vấn đề của giai đoạn hòa bình 1811-1822. Chính trong công trình này đã thể hiện tư tưởng chính trị thực dụng trên cơ sở các đối trọng mà Kissinger theo đuổi suốt đời.
Với Harvard, Kissinger gắn bó cho tới năm 1971. Trong giai đoạn 1956-1958, Kissinger chuyên trách những dự án đặc biệt cho Quỹ Rockefeller...
Chính trường chìm nổi
Năm 1969, Kissinger được Tổng thống Mỹ lúc đó mời làm cố vấn an ninh quốc gia, rồi sau đó kiêm thêm chức Ngoại trưởng Mỹ (từ năm 1973 tới năm 1977, dưới cả thời Richard Nixon lẫn thời Gerald Ford) và được nhớ hơn cả là ở cương vị này. Chính với vai trò quan trọng của Kissinger mà Mỹ năm 1972 đã thiết lập lại được quan hệ với Trung Quốc. Một năm sau đó, Washington đã thương lượng được với Moskva về việc ký hiệp định kiểm soát vũ khí...
Kissinger cũng là người ký vào Hiệp định Paris ngày 23/1/1973, chấp nhận rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và bằng cách đó, công nhận sự thất bại của một chính sách hiếu chiến và sai lầm mà nhiều đời Tổng thống Mỹ đã tiến hành trong vấn đề Việt Nam...
Phải nói rằng, Hội nghị Paris về Việt Nam là một tiến trình phức tạp và gay go vào hàng bậc nhất trong lịch sử ngoại giao quốc tế nửa cuối thế kỷ XX... Gần ba tuần sau khi Hiệp định Parsi được ký, ngày 10/2/1973, Kissinger đã có một chuyến thăm Hà Nội, đầu tiên và duy nhất. Sau này, trong tập sách Kết thúc chiến tranh Việt Nam, Kissinger đã chia sẻ những suy nghĩ của ông ta về đất nước của những con người kỳ lạ đã làm cho nước Mỹ phải ngậm đắng nuốt cay trong những tổn thương tâm lý sau cuộc chiến: “Người Việt Nam đã sống qua hàng thế kỷ dưới ách thống trị của phong kiến Trung Quốc mà không hề đánh mất bản sắc văn hóa, đây là một kỳ công hiếm khi được nghe nói đến. Sau đó, họ đã chiến thắng sự xâm lược của Pháp, luôn luôn ấp ủ niềm tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Giống như một nhà phẫu thuật cầm con dao mổ, Hà Nội mổ xẻ tâm trí của người Mỹ và dò tìm những yếu kém của chúng tôi, ý thức về tội lỗi của dân tộc chúng tôi, những câu trả lời cuối cùng mà chúng tôi muốn tìm, lý tưởng của chúng tôi, và thậm chí giá trị của những người đồng cảm với lý tưởng đó...”.
Được chứng kiến tận mắt một Hà Nội còn đầy những vết thương do các đợt không kích dã man của máy bay Mỹ gây nên, Kissinger đã phải ngạc nhiên khi thấy thái độ điềm tĩnh của người dân nơi đây đối với các đại diện Mỹ: “Người dân ở đây trông rất nghiêm trang, đứng đắn, xa cách và thờ ơ. Trên gương mặt họ không thể hiện cho chúng ta biết được điều gì đã thúc đẩy những nam thanh nữ tú này chiến đấu và chịu đựng một cách ngoan cường đến vậy...”.
Khi Tổng thống Nixon bị mất chức trước thời hạn vì vụ Watergate năm 1974, Kissinger vẫn trụ lại được ở vị trí Ngoại trưởng Mỹ thêm ba năm nữa. Rời khỏi chính trường năm 1977, Kissinger biết khéo léo tận dụng uy thế chính trị cũ của mình để kiếm những khoản tiền hậu hĩnh nhờ việc tư vấn cho các chủ tư bản lớn. Thế nhưng, ông ta cũng thường bị công luận tố cáo nhiều tội lỗi mà ông ta đã gây ra trong thời đương nhiệm Ngoại trưởng. Kissinger bị buộc tội đã gây nên tình trạng cấm vận chính phủ dân chủ của Tổng thống Chilê, Salvador Allende và chuẩn bị cuộc đảo chính đẫm máu do tướng độc tài Augusto Pinochet tiến hành năm1973.
Trong cuốn sách Hồ sơ chống lại Henry Kissinger được xuất bản gần đây, nhà báo Anh Christofer Hitchens đã khẳng định rằng, cựu Ngoại trưởng Mỹ đã không chỉ không có chút đóng góp nào vào việc chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam mà năm 1968, còn cố gắng thuyết phục những người cầm quyền ở Sài Gòn không tiếp tục đàm phán hòa bình với Hà Nội. Theo cách lý giải của Hitchens, bằng cách đó, Kissinger muốn làm giảm uy tín của đảng Dân chủ, lúc đó đang tiến hành đàm phán hòa bình ở Paris, để tạo lợi thế cho chiến dịch vận động tranh cử của ứng cử viên đảng Cộng hòa Richard Nixon. Kissinger đã đưa ra lời hứa với chính quyền Sài Gòn lúc đó rằng, nếu đảng Cộng hòa lên nắm quyền thì Nam Việt Nam sẽ được nhiều lợi thế hơn... Thế nhưng, sau đó, khi Nixon đắc cử, lửa chiến tranh đã lan sang cả Lào và Campuchia. Kissinger còn bị buộc tội liên đới tới những cuộc ném bom Campuchia năm 1970 và tội, dưới thời Tổng thống Mỹ Ford, đã “bật đèn xanh” cho nhà lãnh đạo Indonesia Suharto chiếm đóng Đông Timor... Hiện nay, Đông Timor lại là một quốc gia độc lập.
Chính vì hoài nghi vào thiện chí hòa bình của Kissinger nên năm 1999, trong một chương trình truyền hình, nhà báo Anh Jeremy Paxman đã hỏi Kissinger rằng, liệu ông ta có cảm giác rằng việc trao cho ông ta giải thưởng Nobel về hòa bình sau Hiệp định Paris năm 1973 là sai địa chỉ không? Chẳng biết đáp thế nào, Kissinger đã rời khỏi trường quay đầy bối rối...
Chuyến bay bí mật tới Moskva
Kissinger được coi là một trong những chuyên gia hàng đầu về việc đàm phán trong hậu trường. Một trong những phi vụ thành công của ông ta thời chiến tranh lạnh là việc ký kết thành công hiệp ước về kiểm soát vũ khí với Liên Xô năm 1973.
Về chuyến đi này, Kissinger kể lại với phóng viên tạp chí Ngọn lửa nhỏ của Nga trong một bài trả lời phỏng vấn: “Chúng tôi hạ cánh ở một sân bay VIP mà giờ tôi đã quên tên gần Moskva. Đón tôi là tướng Antonov của KGB. Và ông ấy đã đi tháp tùng tôi. Rồi người ta đưa tôi tới một trang trại nhà nước. Tại đó, tôi đã gặp gỡ với Bộ trưởng Ngoại giao Gromyko. Quả thật, trước đó tôi đã từng gặp ông Gromyko không chỉ một lần ở New York, ở Washington... Cuộc gặp quan trọng diễn ra ngày hôm ấy, với Leonid Brezhnev (Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó). Ông ấy cũng đến trang trại này và chúng tôi đã ở bên nhau suốt một ngày. Cảm giác của tôi ư? Phải nói thật là tôi thích ông Brezhnev. Tôi có cảm tưởng như ông ấy, ít ra là trước khi bị đột quị, đã là một người rất yêu đời. Và dễ chịu.
Cách đây không lâu, khoảng hai ba năm, tôi có tới Điện Kremli. Tổng thống V. Putin có tiếp tôi trong phòng làm việc. Thanh lịch. Ông ấy có mời tôi vào thăm phòng làm việc cũ của ông Brezhnev. Tôi có cảm giác như căn phòng đó trở nên nhỏ hơn xưa.
- PV: Ông có dễ dàng tìm được tiếng nói chung với Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko không?
- Kissinger: Tôi rất kính trọng Bộ trưởng Gromyko. Ông ấy biết đích xác cái gì ông ấy cần. Và rất bướng bỉnh, cụ thể và chuẩn xác. Ông ấy có khiếu hài hước tuyệt vời, đầy tính trí tuệ... Gromyko nắm rất chắc nghệ thuật phủ nhận kép và khi ông ấy sử dụng nó, ta phải nát óc suy nghĩ mới hiểu ra điều mà ông ấy muốn nói tới. Phải, với ông Gromyko làm việc không dễ dàng gì. Và thường là các cuộc đàm phán thường kéo dài rất lâu. Đặc biệt là khi đàm phán về kiểm soát vũ khí.
Ông Brezhnev lại là một típ người khác. Ông ấy có cách làm việc khiến tôi phải sững sờ. Chúng tôi thường gặp nhau trong phòng làm việc của ông ấy. Ông ấy nói xong việc gì đó nhưng không ngồi yên tại chỗ mà đi ra cuối phòng gọi điện thoại đi đâu đó. Và khi người phiên dịch dịch xong điều ông ấy vừa nói và tôi bắt đầu nói, ông ấy vẫn còn đang ở chỗ khác... Lúc tôi nói là lúc ông ấy đi ra chỗ khác, khi tôi nói xong thì ông ấy mới tiến lại gần và nghe người phiên dịch dịch lại... Tôi cũng muốn nói là mọi việc đã tuyệt vời nhưng quả thực là cũng có lúc có những bất đồng...
Đại sứ Xôviết tại Mỹ Dobrynin đã nhiều lần mời tôi chơi cờ tướng với ông ấy, nhưng tôi luôn từ chối vì hai lý do. Thứ nhất, kiểu gì thì ông ấy cũng thắng tôi thôi. Thứ hai, tôi không muốn các chuyên gia tâm lý Xôviết “bắt vị” cách tư duy của tôi...
- PV: Trong tất cả những trò chơi như thế, điều gì khiến ông đau đầu nhất? Đã có khi nào cố vấn an ninh quốc gia Kissinger mất ngủ sau một ván bài nào đó không?
- Kissinger: Sự mạo hiểm lớn nhất là ở Trung Đông. Đã hai lần phải báo động. Lần thứ nhất là khi Syria đánh vào Jordan. Lần thứ hai là khi Brezhnev gửi cho Nixon đề nghị cùng can thiệp sau cuộc chiến tranh Israel-Arab năm 1973. Trong bức thư đó có nêu rõ, nếu hai nước không cùng can thiệp vào thì Liên Xô sẽ làm một mình. Chúng tôi tất nhiên rất quyết tâm để việc này không xảy ra. Và trước khi trả lời, chúng tôi đưa cho báo động để đưa ra tín hiệu đối với Liên Xô rằng mọi việc đã ra ngoài khuôn khổ ngoại giao.
Liệu đã từng có đêm mất ngủ nào chưa ư? Tôi nghĩ rằng, nếu bạn không ngủ được ban đêm thì cái công việc này không dành cho bạn. Phải, khi đó chúng tôi đang trong tình trạng báo động. Chúng tôi đã phúc đáp Liên Xô nhưng rồi tôi vẫn đi ngủ và ngủ ngon. Tôi tin rằng mọi việc sẽ được xử lý ổn thỏa sau hai ba ngày, dầu không biết sẽ xử lý bằng cách nào. Và khi tôi tỉnh giấc lúc 6 giờ sáng thì đã có câu trả lời từ Moskva: cần phải đàm phán!..”