Tưởng nhớ nhà thơ Hoài Anh

Những giấc mơ nằm nghiêng

Nhớ lại những năm chúng tôi còn trẻ, có một thế hệ nhà thơ xuất hiện ngay sau hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), tập trung ở Thủ đô Hà Nội, trong đó có Hoài Anh. Trong không khí hào hứng, nhớ lại chuỗi gian lao những ngày đầu kháng chiến là cảm hứng dĩ nhiên của chúng tôi. Hoài Anh là người có những bài thơ nổi trội về mảng đề tài này, được bạn bè, độc giả Hà Nội và cả nước biết đến. Mấy ai không thuộc...

Mới hôm nào, được biết Hoài Anh ra Hà Nội, đang uống trà ở nhà nhà văn Hoàng Quốc Hải, tôi vội phóng xe đến. Anh Hoàng Quốc Hải và tôi ngạc nhiên nghe dự định của Hoài Anh: "Chuyến này tôi sẽ về quê (xã Bồ Đề, Bình Lục, Hà Nam) và ở hẳn đó". Tôi không rõ anh Hoàng Quốc Hải nghĩ sao, còn tôi, thấy dự kiến đó là điều không tưởng ở tuổi anh, sức khỏe anh (tai nghe không còn rõ nữa, rồi suy thận, tiểu đường…), chưa nói đến nhà cửa đất đai, đâu cũng có chủ cả rồi, anh rời quê ngần ấy năm, rời Hà Nội ngần ấy năm… Nay ở Tp Hồ Chí Minh thì một em đánh giày ở quán bia phố Trần Quốc Thảo, ở đường Trần Đình Xu cũng biết anh. Về quê thì lứa trẻ gọi anh bằng chú bác, bằng ông trẻ, liệu còn ai thân đến độ sẵn sàng thay con cháu hầu anh với mấy thứ bệnh anh mang trong người? Một người coi công việc như hơi thở thì mối quan hệ giữa anh với môi trường bạn bè làm báo chí, xuất bản như cá với nước, rời nước, anh sống làm sao! 

Nghĩ là nghĩ thế thôi, biết có bàn lại với anh cũng vô ích, thôi thì cứ để anh về quê một chuyến, thực tế ở quê hương khi anh ngỏ ý cần một không gian sống, sẽ điều chỉnh dự định cuối đời, nếu anh cần một sự thay đổi! Vậy mà chưa kịp thực hiện ước nguyện của mình, anh đã vội ra đi…

Nhớ lại những năm chúng tôi còn trẻ, có một thế hệ nhà thơ xuất hiện ngay sau hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), tập trung ở Thủ đô Hà Nội, trong đó có Hoài Anh. Trong không khí hào hứng, nhớ lại chuỗi gian lao những ngày đầu kháng chiến là cảm hứng dĩ nhiên của chúng tôi. Hoài Anh là người có những bài thơ nổi trội về mảng đề tài này, được bạn bè, độc giả Hà Nội và cả nước biết đến. Mấy ai không thuộc:

Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua một bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về nhà
Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến
Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô

(Bài "Nhớ ngày Thủ đô kháng chiến").

Sự rời nhà đi kháng chiến được miêu tả độc đáo và lãng mạn đến thế! Đâu phải những phút giây bịn rịn "đìu hiu Dịch Thủy lạnh lùng ghê…/ Tráng sĩ một đi không bao giờ về" đầy vẻ bi tráng. Nay, người Hà Nội hiện đại hoàn tất một sứ mệnh lịch sử mà vẫn hào hoa, tự tại, ung dung như ra phố mua bao thuốc lá! Cả cách nói giản lược "mang phố phường đi kháng chiến" và "Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô", đặt danh từ vào vị trí tính từ lúc ấy là mới lắm!

Mỗi nhà thơ có một giai đoạn cốt lõi của cả sự nghiệp, phần lớn tinh anh sáng tạo của nhà thơ như phát tiết cả vào giai đoạn đó! Thí dụ với nhà thơ Bích Khê, sau khi bị Hàn Mặc Tử chê thơ, trả lại bản thảo, ông chỉ có 3 tháng lao động cật lực, mà viết xong tập thơ "Tinh huyết" để đời! Với Hoài Anh, giai đoạn đó tôi cho là ứng với thập niên đầu sau 1954 giải phóng Thủ đô.

Hoài Anh để lại dấu ấn khá đậm với chùm thơ mang cảm hứng sử thi: "Nhớ ngày Thủ đô kháng chiến", "Lời thề rạp Tố Như", "Đêm tuyên ngôn"…

Anh phát ngôn cho lòng tự hào của người Hà Nội: "Trước đau thương Hà Nội không buồn/ Hà Nội rắn như thanh sắt nguội!". Cách đánh giặc độc đáo của người Hà Nội hiện lên trong thơ anh: "Mỗi phố đánh Tây bằng đặc sản/ Phố Hàng Bát mang bát/ phố Hàng Bông mang bông/ đắp ụ ngăn xe giặc tới…". Ấn tượng nhất là câu: "Lý Thiết Quài trong tủ chè/ cũng nóng lòng khua gậy đánh Tây". Không chỉ giỏi chọn lọc chi tiết, anh còn có những câu khái quát thỏa đáng: Hoài Anh có thời gian dài viết kịch bản và chuyển thể kịch bản cải lương, anh sống cận kề với diễn viên ngay tại rạp Tố Như (phố Hàng Bạc), hiểu khá sâu cuộc đời những đào kép cũ "ngủ khe phông, sống trên sàn gỗ".

Anh thông cảm sâu sắc với "Nghề bán khóc bán cười cho chủ rạp/ Trọn đời  đeo một tiếng vô loài" nên mới viết được câu xót xa thế này về họ: "nhiều khi đánh lẫn mặt mình/ Bóng thương người khóc/ Người thương bóng gầy".

Chủ đề thứ hai, anh nhằm tôn vinh Cái Đẹp, người làm nghệ thuật. Bài thơ thành công nhất trong đề tài này là "Bức tranh gà". Anh dựng cảnh nghệ nhân vẽ tranh với nhiều chi tiết thơ sống động: "Bác thợ lật giấy/ Con gà đứng dậy/ Ô sao bỗng thấy/ Mắt gà chớp nhanh/ Mắt bác không chớp". Từ đó, để nhà thơ khái quát: "Hồn nước sống mãi/ Con gà đứng canh" và "Ơi người nghệ sĩ/ Tên là dân gian/ Góp cùng trời đất/ Con gà Việt Nam/ Gà từ trong tranh/ Gà ra cuộc đời/ Gáy lên gà ơi!".

Nhớ những ngày anh sống trên căn gác chật chội phố Hàng Buồm. Có lần tôi đến, thấy anh nằm bò ra giường mồ hôi nhễ nhại. Hỏi anh đang viết gì, anh đáp: "Mình viết xã luận cho báo Lao Động về ngày 1 tháng 5". Thông minh, có trí nhớ hiếm có, anh nhận viết theo yêu cầu các báo kiếm đồng nhuận bút nuôi con và nuôi thơ…

Hồi tôi còn công tác ở Hải Phòng, những năm chiến tranh phá hoại, đường số 5 bị bom đánh sập mấy cây cầu, ôtô khách rất hiếm, nhiều khi phải đạp xe suốt trăm cây số đường 5 mới về được căn gác nhỏ phố Nguyễn Siêu, vợ con tôi đang sống ở đó. Thế mà chỉ vài giờ sau, buổi tối, tôi đã có nhu cầu dạo quanh Hồ Gươm một hai vòng, và không quên ghé qua dãy số chẵn Hàng Bồ rủ Hoài Anh đi dạo. Một công đôi ba việc. Tôi được nghe tin tức về các bạn thơ: Phạm Ngọc Cảnh đã "biến" khỏi Hà Nội, ai cũng biết nơi anh đang đến;  Ca Lê Hiến (tức Lê Anh Xuân) sắp đi B; Nguyễn Mỹ vừa viết bài thơ "Cuộc chia ly màu đỏ" rất được; ông Trinh Đường báo Văn nghệ định tuyển một trang thơ hay của Hà Nội, tiếp đó là một trang của Hải Phòng để động viên giới trẻ hai vùng thơ đang sung sức vv và vv…Cái thú nữa là khi đi dạo, đôi khi Hoài Anh nảy ra những ý tưởng, những so sánh lạ mà mình không nghĩ tới. Có hôm anh chỉ Tháp Rùa trước mặt, nói: "Mình có cảm tưởng Tháp Rùa là cái trụ của chiếc đèn kéo quân, mà tớ với cậu là những quân chạy quanh tán đèn". Ừ nhỉ! Ít ra là điều đó đúng với tôi, đúng cả với chuỗi thời gian sau đó: Mười năm ở thành phố biển, lại dăm năm núi Tản sông Đà, rồi về Hà Nội, vẫn chỉ chạy quanh cái Tháp Rùa!

Hoài Anh có một trí nhớ đặc biệt, nhất là nhớ thơ. Khi anh đã nhớ và thừa nhận đó là bài thơ hay, câu thơ hay thì anh rất dị ứng với sự "tam sao thất bản". Chúng tôi, lớp học sinh Hà Nội trong vùng tạm chiếm có sở thích sưu tầm những bài thơ hay vùng kháng chiến. Những "Tây tiến", "Lính râu ria", "Quán bên đường" của Quang Dũng chúng tôi đều đã chuyền tay nhau chép. Hoài Anh thì được tiếp nhận những bài thơ này từ nhiều nguồn: Thí dụ anh đọc "Tây tiến" từ một tạp chí Văn nghệ in ở Việt Bắc, "Trắc ẩn" ở sổ tay một đồng đội. "Quán bên đường" lại đọc từ tập san Kinh đô Văn Nghệ của Đinh Hùng in trong vùng tạm chiếm, khi anh đang lặn lội vùng địch hậu Khu III. Tôi đã chứng kiến ở quán trà Phúc Châu phố Tạ Hiện, anh phản ứng với nhà thơ Quang Dũng, người anh hằng cảm phục về những câu thơ hay anh thuộc, mà nay chính tác giả lại tự làm "xây xước" thơ mình. Giở tập thơ "Rừng biển quê hương" vừa in xong lúc ấy (in chung với Trần Lê Văn, 1957), Hoài Anh nghẹn run lên: "Anh…anh sửa…sửa lại thế này hỏng hết thơ anh còn gì! Mới bị phê là "buồn rớt" anh đã "kinh cung chi điểu" ư?". Thì ra, Hoài Anh nói về câu cuối của bài "Quán nước". Hai câu cuối anh thuộc là:

Hồn lính vương qua vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay !

"Câu thơ tình cảm đúng với hoàn cảnh quá! Nay bản in là Có gì man mác tự vừa đây. Tự vừa đây là cái gì? Lại còn Mắt em như nước giếng thôn làng, thế chỗ của Mắt em dìu dịu buồn Tây phương thế nào được. Cô gái vùng Sơn Tây, nơi có chùa Tây Phương với những tượng La Hán nổi tiếng, phía Tây Hà Nội, sao lại phải đổi…".

Mấy hôm sau gặp tôi, anh tỏ ra ân hận: "Hôm ấy anh Quang Dũng chỉ im lặng, cười hiền lành, tôi thấy mình hỗn quá, bất nhẫn quá…Nhưng từ đó, khi làm tuyển thơ Hà Nội, tôi không muốn giở sách của anh ấy ra chọn bài, mà chọn theo trí nhớ". Hoài Anh đôi lúc "cực đoan" như vậy!         

Hồi anh làm biên tập cho báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, một thời gian dài anh ngủ tại bàn làm việc của cơ quan. Nhà thơ Trần Sĩ Tuấn từng viết tặng anh bài thơ khá cảm động về tình trạng này: "Đêm dài quá anh ạ / Tuổi năm mươi nằm một mình không ấm chỗ/ Chiếc bàn gỗ hình chữ nhật/ ngắn và hẹp/ Anh nằm nghiêng riết thành quen/ Muỗi vo ve cắt đêm thành những vòng tròn?/ Đêm cắt anh thành hình chữ nhật/ Ngắn và hẹp. Những giấc mơ anh bị đóng khung? Những giấc mơ anh nằm nghiêng/ Những giấc mơ không lăn qua lăn lại/ Sợ hụt chân rớt xuống sàn nhà / Giật mình tỉnh giấc/ Là lúc anh vắt kiệt ra để sống/ Vắt kiệt ra để yêu/ Đêm chạy trên trang giấy…".

Khi anh đã có căn buồng riêng, mấy lần gặp tôi ở Hà Nội, anh đều mời: "Mình đã có nhà, lúc nào vào, ghé chỗ mình ngủ nhé!".      

Nhìn vào hành trình sáng tạo của Hoài Anh, ta thấy cái phần tươi xanh của tâm hồn, anh dành cho Thơ giai đoạn đầu đời viết, gắn bó chặt chẽ với những kỷ niệm, con người, cảnh vật khu phố cổ Hà Nội. Giai đoạn sau 1976, khi chuyển cư vào thành phố Hồ Chí Minh, anh chủ yếu dành cho văn xuôi (tiểu thuyết lịch sử, nghiên cứu, phê bình, dịch thuật…) gần hết thời gian sống. Điều đó phù hợp với đặc điểm sáng tạo từng giai đoạn trong cuộc đời một nhà văn đa tài như Hoài Anh! Tôi muốn gọi anh là người thơ Hà Nội, bởi nỗi niềm thơ và kỷ niệm, hình ảnh khu phố cổ Hà Nội vẫn đau đáu, thường trực trong anh bất kể anh viết về thể loại nào, cư ngụ ở chân trời nào. Anh là người nghệ sĩ đã vẽ "Bức tranh gà", vẽ đạt đến nỗi khi anh mất rồi, con gà của anh vẫn đang cất cao tiếng gáy…

Vân Long

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.