Những điều đã mất ở Hà Nội

Hà Nội đã hơn một nghìn năm tuổi. Hơn một nghìn năm, quãng thời gian ấy, nếu ném vào cõi vô thủy vô chung của trời đất thì chẳng qua nó chỉ dài bằng một cái chớp mắt. Nhưng nếu đặt cạnh thời gian để sống và thời gian để chết của một đời người, thời gian của biết bao đô thị trên thế giới đã từng huy hoàng rồi tàn lụi dưới trăng, thì hơn một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội quả là đáng nể.

Lịch sử dài ra, các lớp trầm tích văn hóa càng trở nên dày thêm dưới từng vuông đất Thăng Long, điều đó đem lại niềm tự hào chính đáng cho Hà Nội ngày hôm nay. Nhưng cũng có những cái đã mất đi. Có thể là sự mất mát khôn tránh do nỗi thương hải tang điền. Có thể là sự mất mát đáng tiếc do những biến cải trong nhân sinh và của nhân tâm. Không cần nói đâu xa, chỉ nhìn Hà Nội từ đầu thế kỷ XX tới nay, nhiều niềm nhớ tiếc đã ngân vang trong những người nặng lòng hoài cổ...

Những điều đã mất ở Hà Nội -0
Bách hóa Tổng hợp Hà Nội tọa lạc trên đất của Tràng Tiền Plaza bây giờ. Ảnh: S.t

Hãy nói tới những cái mất có tính vật thể, có kích tấc, có thể nhìn ngắm đo đếm được. Bách hóa Tổng hợp Hà Nội, tọa lạc trên đất của Tràng Tiền Plaza bây giờ, chẳng hạn. Nguyên thủy, cửa hàng có tên là Grands Magasins Réunis (Liên hiệp đại thương điếm), do nhiều chủ hàng góp cổ phần và được chính quyền thuộc địa cấp giấy phép xây dựng vào năm 1923. Trên thực tế, dân Hà Nội quen gọi nó bằng một cái tên ngắn gọn: nhà Goddard, lấy theo tên của một Nghị viên Quốc hội Pháp đã sang điều tra tình hình Đông Dương năm 1936. Trước năm 1945 và trong thời gian tạm chiếm, nhà Goddard là một địa chỉ mua sắm quen thuộc của giới tư sản giàu có ở Hà Nội, thậm chí có thể nói, nó là một biểu trưng của Hà thành hoa lệ.

Sau hòa bình lập lại 5 năm, vào tháng 8-1959, theo lệnh của UBND thành phố Hà Nội, nhà Goddard bị đập đi, và ngay trên đống đổ nát của nó, người ta đã xây dựng cửa hàng Bách hóa Tổng hợp. Quá trình xây dựng Bách hóa thế nào, chuyện bếp núc của việc lên bản vẽ thiết kế cho công trình ra sao v.v..., tất cả những điều đó được nhà văn Vũ Bão cho biết khá chi tiết trong bài báo “Bách hóa Tổng hợp, ca bán hàng cuối cùng” đình đám một thời. Nói rõ thêm một chút: Vũ Bão viết bài này năm 1995, năm thứ 35 của Bách hóa Tổng hợp, và khi ấy thì nhà Goddard đang chuẩn bị chịu “hóa kiếp” lần thứ hai.

Chuyện sẽ chẳng là gì cả nếu trong bài báo ấy, ông nhà văn nổi tiếng tinh quái sắc sảo kia không “đỏ con mắt bên phải, ngứa con mắt bên trái” mà kêu trời về sự mong manh bất định của lần “hóa kiếp” thứ hai này: tựa vào cái liên doanh Hà Nội Plaza, người ta san phẳng Bách hóa Tổng hợp, sau đó để đối tác nước ngoài chơi bài “đặt xô rách chậu thủng” rồi cho cò đi “mơi” người mua lại để ăn chênh lệch. Kết quả là hàng ngàn mét vuông đất ở trung tâm Hà Nội bị bỏ hoang, hàng trăm tỷ đồng bị thất thoát, cuộc sống của bao người lao động tại đây bị xóc lắc dữ dội... Những vấp váp ấu trĩ của cái thời mới làm ăn với “Tây” như vậy rồi cũng qua, giờ đây Tràng Tiền Plaza đã mọc lên.

To đẹp, lộng lẫy hơn Bách hóa Tổng hợp “ngày xưa” là cái chắc, nhưng Tràng Tiền Plaza còn xa mới đạt tới tầm quan trọng như Bách hóa Tổng hợp vài chục năm trước. Hãy đọc vài dòng hồi ức của Vũ Bão: “Sau ngày Thủ đô giải phóng, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp được coi là pháo đài mẹ của nền thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Các ông bà nông dân ở các tỉnh lên Hà Nội thế nào cũng bắt con cháu đưa đi “Tổng hợp”. Các anh chị từ khắp mọi miền đất nước về Thủ đô thế nào cũng phải đi mua một món hàng ở “Tổng hợp”, lên Thủ đô chưa đi thăm “Tổng hợp” thì coi như chưa đến Thủ đô. Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp nghiễm nhiên trở thành một điểm du lịch”.

Thêm một chi tiết vui vui nữa: “Hồi đầu tháng 9 năm 1960, khi cửa hàng Bách hóa Tổng hợp vừa khai trương, người đến xếp hàng chờ giờ mở cửa đông vô kể, đặc kín cả dải hè Hai Bà Trưng, Hàng Bài, Tràng Tiền. Lượng người đã đông, ba cái cửa lại nhỏ nên nhiều người chen vào xem pháo đài thương nghiệp XHCN bị tụt cả dép nhưng không tài nào cúi xuống nhặt dép được. Về sau đội bảo vệ cửa hàng vun được một đống dép to đùng, ai quay ra nhận đôi nào thì xỏ ngay chân vào đôi ấy”. Cái không khí hội hè xôm tụ như vậy, xét cho cùng, là niềm vui lấp lánh trong một thời cả nước vất vả thiếu thốn đến kỳ cùng. Chính vì thế mà nó đáng nhớ, và nó đáng giá đến mức rất nhiều người không thể tìm thấy niềm vui tương tự ở khi đặt chân tới các trung tâm thương mại bây giờ.

Tàu điện là một hình ảnh đã mất khác, một niềm nhớ tiếc khác trong thế giới tình cảm của người dân Thủ đô. Niềm nhớ tiếc cồn lên, da diết hơn gấp bội mỗi khi từ đâu đó chợt vang lên trong ta cái giai điệu nhuốm màu hồi ức: “Nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya, hướng ra Đống Đa, Cầu Giấy...”. Tàu điện Hà Nội chạy với tốc độ chậm, đều đều, thong thả, “không đi đâu mà vội”, cái tốc độ thật hợp với nhịp sống của một thành phố được kiểm soát tốt về quy mô, nơi con người có đủ thời gian và đủ bình tĩnh để làm mọi việc trong sự ngăn nắp, và làm đến mức thật chỉn chu.

Trong một bài viết ngắn có tên “Nhớ những cái Tết lên xe điện vào chợ”, nhà văn Lê Minh Khuê đã ngược về quá khứ, theo cái tốc độ đều đều, thong thả của tàu điện Hà Nội mà nhìn ngắm thành phố “một thời đạn bom”. Đang chiến tranh, vậy mà dường như ở Hà Nội không hề có chỗ cho sự cẩu thả tùy tiện: “Cây Bờ Hồ như cổ thụ trong rừng phủ bóng mát lên những chiếc hầm trú ẩn công cộng. Hầm tối tăm vậy mà không có ai bày bẩn, không ai xả rác, không phải là chỗ để tá túc”.

Và: “Từ trong rừng cây Bờ Hồ buổi trưa nắng thu hoe vàng, chiếc tàu điện đầu thế kỷ hai mươi chậm rãi chuông chậm rãi đi”. Tàu điện đưa hành khách tới khắp các chợ của Hà Nội: Đồng Xuân, Bắc Qua, Hàng Bè, chợ Hôm, chợ Mơ... để thưởng thức những thứ quà dân dã: bún ốc, bánh đa riêu cua, bánh khúc, bún đậu mắm tôm... Chẳng có gì đặc biệt, những thứ quà vừa với túi tiền còm của dân lao động và hợp với thời buổi lương thực bị quản lý ngặt nghèo. Có chăng chỉ đặc biệt ở điểm: là thời chiến, nhưng quà bánh bán ra cho khách được chế biến rất cẩn thận, đảm bảo cả về phẩm và lượng và sự bắt mắt.

Đến mức, nó trở thành một “điểm nhấn” trong ký ức của nhà văn: “Không gia vị, không chất phụ gia, món ăn chợ Hà Nội thời chiến làm sạch sẽ - bây giờ không ai còn làm hàng ăn sạch thế - ăn một muốn ăn thêm ba. Và điều quan trọng: món ăn làm chợ đặc biệt thanh bình. Người ta có thể mua một món hàng rồi quên. Nhưng ăn một miếng ngon ở chợ Hà Nội ngày ấy, nhiều người nhớ đến bây giờ”.

Trong trường hợp này, dễ thấy, chiếc tàu điện cổ lỗ đã đóng vai trò của một “vật môi giới”: môi giới giữa nỗi nhớ của con người trong hiện tại với hình ảnh của Hà Nội trong quá vãng. Sự mất đi của chiếc tàu điện có thể là một tất yếu trên phương diện phát triển xã hội, nhưng với những người đã sống cùng Hà Nội qua hai giai đoạn, sự mất đi ấy gợi cho người ta nghĩ đến những sự mất đi khác, quan trọng hơn, gây dư chấn dai dẳng hơn, tạo những vết nứt rộng và sâu hơn: đó là mất đi phong thái sống, hay “nếp” sống - một bộ phận đã hiển nhiên hợp thành giá trị văn hóa của Hà Nội.

Nhưng, văn hóa là một khái niệm quá rộng. (Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc - người đã dịch rất thành công cuốn “Vật tổ và cấm kỵ” của S. Freud - lúc sinh thời có một định nghĩa thật ngắn gọn về văn hóa: Nó là cái “vô sở bất tại”, tức là không chỗ nào mà nó lại không có mặt). Vậy nên ở đây xin được thu hẹp vấn đề lại, chỉ nói tới mặt văn hóa của cái sự ăn, ngôn ngữ thời thượng gọi là “văn hóa ẩm thực”, của Hà Nội trước kia và bây giờ. Và cũng chỉ nói tới một món ăn quen thuộc thôi: món Phở.

Quả thật, hiếm có món ăn nào được các nhà văn vào cỡ đại gia nhất loạt ca tụng như phở. Hãy xem Vũ Bằng, trong “Miếng ngon Hà Nội”, vẽ một bức tranh tĩnh vật về bát phở: “Một nhúm bánh phở, một ít hành hoa thái nhỏ điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc, mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... Ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong trường phái văn nghệ tiền tiến, dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt”.

Và đây, khi bát phở làm cho sống động những cái gai vị giác của thực khách: “Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm...

Rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực thiên nhiên, không có chất gì là hóa học...”. Nguyễn Tuân cũng không chịu thua kém, trong bài tùy bút “Phở” rất đặc sắc, ông viết: “Dùng những hình ảnh bình dị để nói lên mùa đông ở Việt Nam tôi cho rằng không gì nên thơ bằng hình ảnh một bếp lửa hàng phở ở bến ô tô nhiều hành khách quây quanh chờ đợi bát mình, vai rụt xuống một tí, người nhún nhảy như trẻ em đang thú đời”.

Và, khi lấy sự sành ăn của mình ra làm chuẩn, ông quả quyết: “Thật ra ăn phở cho đúng, đúng cái “gu” của phở, phải ăn thịt chín. Thịt chín thơm hơn thịt tái, mùi thơm miếng thịt chín mới biểu hiện đúng cái tâm hồn của phở. Thêm nữa, về mặt nhận thức tạo hình, người thẩm mỹ bao giờ cũng thấy miếng thịt chín đẹp hơn miếng thịt tái”.

Thế nhưng, đó là phở của Hà Nội hơn nửa thế kỷ về trước. Nó thuần chất, không pha tạp, trọng phẩm chứ không trọng lượng, không lấy cái phổ biến đè nén cái đặc thù. Còn bây giờ? Như nhà văn Hồ Anh Thái từng khái quát trong bài “Hà Nội, con thuyền, phù sa”: “Đời sống đô thị chuyển vần tốc độ chóng mặt, thức ăn khó mà chỉ dành cho thiểu số người ngâm nga nhấm nháp bên lề dòng chảy. Ăn uống cũng nhanh lên, mạnh lên, hùng hục, quần quật. Nhiều sáng kiến ẩm thực cho phù hợp thế sự”. Thì đấy, trong phở Hà Nội nay đã phổ biến phở trứng- “thứ phở giàu xổi tanh tanh”- rồi phở tổng hợp, phở mọc, phở hải sản...

Kỳ lạ nhất là sự có mặt, và được phê chuẩn khá dễ dàng, của những thứ phở sau một vòng “thiên di” đã trở lại trên quê gốc của nó: phở xe lửa, phở tàu bay Cali- trong những cái bát to như cái chậu thì đây thứ phở không cách nào ăn nóng đến thìa nước dùng cuối cùng; phở Sài Gòn- thứ phở được ăn kèm với cả cây húng cây kinh giới um tùm sum suê. Có thể nói mà không sợ quá lời, rằng bát phở cho phép ta nhìn ra những thay đổi trong nếp sống, trong văn hóa Hà Nội ngày hôm nay, thời đổi mới và hội nhập. Có những cái tưởng được thêm, nhưng thực chất lại là mất đi một cách rất đáng tiếc”.

Mà, nói theo một câu ngạn ngữ của người Nga: Con cá mất là con cá to.

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?