Những dấu chân huyền thoại...

Đang ở thân phận bốn chân, loài người đứng dậy đi bằng hai chân. Đó là một bước văn minh nhảy vọt. Từ đó “chân” đi vào ký ức nhân loại như là một trong những khái niệm thiêng liêng nhất. “Chân” là sức mạnh vô biên mà đến nay ý nghĩa vẫn hiện ra trong kho từ vựng, như “bước chân vạn dặm”, “đôi hài vạn dặm”, “bước dài như gió”...

Thần thoại Hy Lạp – La Mã kể dũng sỹ Asin mình đồng da sắt, gươm chém vào gươm mẻ, tên bắn vào tên gẫy. Asin trở thành bất tử. Chàng đánh đâu thắng đấy. Dù đội quân chàng có yếu đến đâu, bị thua liểng xiểng nhưng có chàng ra trận thì quân đối phương tự nhiên tan rã. 

Nhưng rồi kẻ thù cũng tìm ra điểm yếu chí tử ở chàng. Lần ấy tướng giặc đánh nhau rồi giả vờ thua, bay lên trời chạy trốn. Asin hăm hở đuổi theo. Chàng bay lên không trung... Ở dưới đất, những mũi tên độc của đối phương cũng bay lên nhằm vào gót chân chàng... Chàng Asin dũng mãnh tử trận trong đâu đớn, quằn quại... 

Tại chàng chủ quan đã đành, cũng còn là tại những bà mụ ngày trước, khi chàng sinh ra đã cầm lấy hai cổ chân chàng nhúng xuống dòng sông thiêng. Ai được tắm ở dòng sông này sẽ có sức mạnh vô địch, thân thể sẽ cứng như kim loại và sẽ bất tử. Nhưng các bà mụ quên nhúng đôi gót chân người anh hùng tương lai...

Từ đó nhân loại có cụm từ “gót chân Asin” để chỉ điểm yếu chết người của bất kỳ ai!

Bức điêu khắc Buddhapada (dấu chân của Đức Phật).
Bức điêu khắc Buddhapada (dấu chân của Đức Phật).

Nhưng với người Việt ta thì khái niệm “chân” từ nghĩa ban đầu là chỉ bộ phận cơ thể tiếp xúc với đất có tác dụng đưa cơ thể di chuyển, hoạt động, thành nghĩa chỉ cả con người. Đến nay người ta vẫn nói: “Anh ta có chân trong Hội đồng quản trị đấy!”. Mấy tay say chơi tổ tôm, còn thiếu người bèn mời chào: “Làm một chân đi...”. Một cô gái kênh kiệu quát chàng trai si tình: “Sao cứ theo gót người ta mãi thế!”...Thì ra tiếng Việt mình “bão táp” thật!

Trong từ vựng tiếng Việt hình tượng “chân” còn là để nói thay cho người. Chúc lên đường may mắn, mạnh khỏe, vượt mọi trở ngại thì dùng “Chân cứng đá mềm”, “Chân đồng vai sắt”. Để chỉ hình ảnh hoành tráng, vĩ đại, thì “Đầu đội trời, chân đạp đất”. Để chỉ hoàn cảnh vất vả: “Chân lấm tay bùn”; hoàn cảnh son rỗi thì “Chân không mình rồi”...

Trong câu văn hiện đại người ta vẫn lấy “bàn chân”, “dấu chân”, “vết chân” làm hoán dụ thay thế cho con người, như nói “Dấu chân anh ta in khắp các châu lục” thì phải hiểu: anh ta đã đi (du lịch) khắp thế giới! Như vậy “dấu/bàn/vết chân” còn được hiểu như một quá trình trưởng thành. 

Hiểu theo nghĩa này thì ngay tên gọi tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu đã nói lên cả một quá trình chiến đấu qua nhiều không thời gian của nhân vật... Tương tự tên bài hát “Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến rất đáng phân tích. Vết chân người bình thường không bao giờ “tròn” nhưng vì là thương binh cụt chân, phải đi nạng. Lại đi trên cát mềm xốp,  bị lún sâu xuống nên càng vất vả...

Như vậy, người Việt rất coi trọng bàn chân, gót chân. Thậm chí cực đoan: “Người xinh đôi gót cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn”. Nhưng chưa bằng gót chân, bàn chân cô Tấm. Cô đi hội nhưng vì làm rơi chiếc hài để vua nhặt được. Vua quả quyết hài đẹp thế thì dứt khoát chân phải đẹp bèn ra chiếu dụ bất kể ai là đàn bà hễ ướm vừa hài vua sẽ lấy làm vợ. Dĩ nhiên là chỉ có Tấm đi vừa. 

Thì ra ở cổ tích biểu hiện của người đẹp trước hết là đẹp ở bàn chân, gót chân. Nhất là cái đẹp của gót chân. Đó chính là sự thách thức với cái lam lũ vất vả suốt ngày lội bùn nên dân gian lấy cái gót chân làm đối tượng mỹ cảm - một biểu hiện của sự lạc quan vượt lên trên hiện thực. 

Nhạc sỹ An Thuyên có câu thật hay, rất truyền thống: “Và người con gái tôi yêu nơi làng quê/ Có ai ngờ chân lấm bùn mà tôi ngỡ gót chân tiên …” (“Ca dao em và tôi”). Chữ “ngỡ” đưa “tôi” từ thế giới thực (lấm bùn) đến thế giới “tiên” (gót chân tiên). Cái hài ôm gót chân nên, rất đúng với tư duy cổ tích, hài đẹp tức là chân đẹp. Chân đẹp tức người đẹp...! 

Chung quanh hình tượng cái “gót chân” thôi, ta vẫn thấy cụ Nguyễn Du tả sao mà tài thế: “Kiều từ trở gót trướng hoa”; “Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường”; “Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai”... Thì ra “gót” chân còn biểu trưng cho cả một thân phận, một số phận cuộc đời, một tương lai...

Nhưng ở thần thoại “Thánh Gióng” còn ly kỳ hơn. Mẹ Thánh Gióng một hôm đi làm vườn, thấy một vết chân rất lớn, Bà liền ướm thử chân mình... Về nhà, Bà tự nhiên mang thai mà đẻ ra Gióng…

Không chỉ ở ta, trong văn học dân gian thế giới có hẳn cả một môtip “ướm vết chân lạ rất to rồi sinh con”.

Rìu gót chân vuông – hình tượng độc đáo của văn hóa Đông Sơn.
Rìu gót chân vuông – hình tượng độc đáo của văn hóa Đông Sơn.

Thần thoại Trung Hoa có truyện “Mẹ thần kê Hậu Tắc” kể bà Khương Nguyên một lần ra ngoài đồng, tương tự như Mẹ Gióng cũng “giẫm vào vết chân một ông khổng lồ” rồi sau đó đẻ ra thần Hậu Tắc. Nhờ vậy mà lớn lên thần có sức khỏe vô địch, can đảm vững vàng như núi, mạnh mẽ “như một ông khổng lồ”. 

Có điểm chung về môtip “mang thai vì giẫm vào vết chân” được bắt gặp trong nhiều huyền thoại về thần linh hay các đấng anh hùng dân tộc vĩ đại. Như chuyện bà Hoa Tư, vợ Đế Cốc, giẫm lên vết chân của Lôi Thần mà đẻ ra Phục Hy – một anh hùng văn hóa Trung Hoa thời tối cổ. Trong chùm về thần thoại Tản Viên của ta có truyện Bà Đinh Thị Hoa (tục gọi bà Đen), vốn là một trinh nữ, một lần đi cấy, “giẫm phải vết chân rất to” mà mang thai 14 tháng rồi sinh ra một con trai đặt tên là Nguyễn Tuấn, sau này là thần núi Tản Viên...

Như vậy môtip “giẫm vào vết chân to rồi mang thai” gắn liền với tín ngưỡng phồn thực. Nhưng tại sao lại là “bàn chân khổng lồ”? Đây chỉ là một cách lý giải:

Đang ở thân phận bốn chân, loài người đứng dậy đi bằng hai chân. Đó là một bước văn minh nhảy vọt. Từ đó “chân” đi vào ký ức nhân loại như là một trong những khái niệm thiêng liêng nhất. “Chân” là sức mạnh vô biên mà đến nay ý nghĩa vẫn hiện ra trong kho từ vựng, như “bước chân vạn dặm”, “đôi hài vạn dặm”, “bước dài như gió”... 

Nhưng nghĩa ẩn dụ nguyên ủy ban đầu thì “chân” tái sinh sự sống, đúng hơn là kiến tạo cuộc sống mới. Thế là theo lẽ tự nhiên, “chân” như một linga thần thánh lớn lao kết hợp yoni mặt đất hiền lành, thuần hậu, vĩ đại để đẻ ra những đứa con thần thoại (Phục Hy, Thánh Gióng, Tản Viên...)!?

Không ngẫu nhiên, các tôn giáo lớn đều có biểu trưng “dấu chân” của riêng họ. Theo truyền thuyết Phật giáo, trước khi viên tịch, Đức Phật đi đến Kushinara và đứng trên một tảng đá, quay mặt về phương Nam. Từ đó hậu thế được Đức Phật lưu lại dấu chân của Người hằn vào mặt đá. Tất nhiên, các tín đồ phải “vĩnh cửu hóa” dấu chân này nên mới xuất hiện bức phù điêu khắc dấu chân Phật có hình bánh xe pháp luân. Hơn thế, dấu chân Đức Phật còn được khắc vào đá (ở Bodhgaya).

Với đạo Công giáo thì sau lễ Chúa Giêsu phục sinh là lễ Chúa Giêsu lên trời. Truyền thuyết kể trên đồi Oliu ngày xưa (nằm cạnh thành Giêsurusalem), trong thời Cựu ước là một thánh địa, trên đó có nhà nguyện kính Chúa Giêsu lên trời. Đến thời Trung cổ dấu bàn chân Chúa Giêsu được chạm khắc trên nền nhà để kỷ niệm kính nhớ Chúa từ nơi đây đặt bàn chân trở về lên trời!

Thế nên “dấu chân” đi vào phong tục mọi nơi như là đương nhiên vậy. Tục cổ truyền của người Nga, khi làm lễ thành hôn tại nhà thờ thì cô dâu bắt buộc“đặt một chân” lên chiếc thảm đỏ, nơi làm lễ tuyên thệ với ý nghĩa từ giờ phút này cô sẽ là “bà chủ” của một gia đình, dĩ nhiên trong đó có người chồng mình. Người Thái Tây Bắc ở ta cũng có tục tương tự. Khi cô dâu “giẫm vết chân” lên (sàn) nhà chồng, người ta phải làm lễ “trình diện” thành viên mới với gia đình (người sống), gia tiên (ông bà tổ tiên), gia thần (các thần, có nơi gọi ma) nhà chồng.

Nói về huyền thoại thì cũng nên nói đến “phản huyền thoại” như là một đối cực trong sự thống nhất. Có lẽ xuất phát từ sự coi trọng bàn chân một cách thái quá mà xã hội Trung Quốc thời trước quan niệm một cách lệch lạc: phụ nữ càng có bàn chân nhỏ thì càng đẹp. Thế là có cái tục bó chân dã man (được miêu tả sinh động trong “Gót sen ba tấc” của Phùng Ký Tài - Phạm Tú Châu dịch). 

Để chiều những đàn ông ích kỷ chuộng “tam thốn kim liên” (gót sen ba tấc), nhiều phụ nữ phải bó chân 3 tấc (8,6cm). Mới 4-9 tuổi, các bé gái phải cắt móng chân thật ngắn, ngâm chân vào nước thảo mộc pha máu động vật (để tránh nhiễm trùng) rồi bó chặt bằng vải, 4 ngón chân bẻ quặt vào lòng bàn chân. Vải được tháo ra định kỳ để rửa và xoa bóp. 

Mỗi lần bó lại, băng vải sẽ được quấn chặt hơn. Các ngón chân bị nén chặt đến nỗi có khi bị gãy xương... Dĩ nhiên, người phụ nữ đi lại sẽ rất khó khăn. Chịu đau đớn để có bàn chân “nhỏ nhắn” thì dễ lấy được chồng giàu, và chồng mới yêu... Thật là hủ tục phi nhân tính!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).