Những cuộc thử nghiệm thuốc trên con người gây tranh cãi

Trong hơn hai thế kỷ, các nhà khoa học đã cố tình lây nhiễm cho bệnh nhân những căn bệnh nguy hiểm để tìm hiểu thêm.

Cuộc nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên trên con người

Cuộc chạy đua phát triển vaccine ngừa COVID-19 đang trong giai đoạn nước rút, với vaccine của Pfizer đã được cấp phép ở một số quốc gia và Moderna không bị tụt lại xa. Nhưng sự kết thúc của đại dịch sẽ không chỉ đến từ 2 đột phá dược phẩm này.

Để ngăn chặn hoàn toàn sự lây lan của COVID-19, nhiều phương pháp điều trị và vaccine có thể cần thiết để tiêm chủng cho hàng tỷ người. Một số chuyên gia nói rằng cách nhanh nhất để kiểm tra các vaccine thế hệ thứ hai đó là thông qua các thử nghiệm trên người. Những người ủng hộ thử nghiệm vaccine trên con người gây tranh cãi cho rằng nếu có thể được thực hiện một cách an toàn thì nó sẽ cung cấp một môi trường được kiểm soát độc đáo để nghiên cứu các yếu tố khó, làm sáng tỏ các thử nghiệm giai đoạn 3 quy mô lớn, với hàng nghìn người. 

Các nhà phê bình cũng chỉ ra rằng, sự an toàn là một mối quan tâm ngay cả đối với các tình nguyện viên trẻ tuổi. Vì các nhà khoa học không biết cách điều trị COVID-19 hoặc tác dụng lâu dài của nó là gì. Và bằng chứng được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra vào tháng 9-2020 cho thấy, ít nhất 1/5 trong số những người từ 18 đến 34 tuổi mắc COVID-19 có các triệu chứng kéo dài.

Năm 1796, bác sĩ phẫu thuật người Anh Edward Jenner thử nghiệm loại vaccine đầu tiên trên thế giới.
Năm 1796, bác sĩ phẫu thuật người Anh Edward Jenner thử nghiệm loại vaccine đầu tiên trên thế giới.

Cuộc tranh luận về một thí nghiệm gây tranh cãi như vậy không có gì mới. Năm 1796, bác sĩ phẫu thuật người Anh Edward Jenner thử nghiệm loại vaccine đầu tiên trên thế giới bằng cách cho cậu con trai 8 tuổi của người làm vườn của mình mắc bệnh đậu mùa trên súc vật và sau đó là bệnh đậu mùa trên người. Kể từ đó, các thử nghiệm trên người đã được sử dụng để nghiên cứu hàng chục loại bệnh từ bệnh tả đến ung thư, nhưng các nghiên cứu ban đầu thường đặt những người tham gia trực tiếp vào nguy hại, không phải lúc nào họ cũng biết. Ngày nay, mọi nghiên cứu thử nghiệm trên người đều được hội đồng chuyên gia xem xét cẩn thận trước khi bắt đầu.

Yêu cầu quan trọng của một nghiên cứu đạo đức là tình nguyện viên phải đưa ra sự đồng ý có hiểu biết, chứng minh rằng họ hiểu những rủi ro khi tham gia một nghiên cứu. Năm 1898, khi Mỹ gây chiến với Tây Ban Nha, bệnh sốt vàng da - có thể gây tổn thương gan, buồn nôn, sốt cao và chảy máu - khiến binh lính thiệt mạng nhiều gấp 13 lần so với vết thương chiến tranh. 

Vì vậy, vào năm 1900, quân đội Mỹ thành lập một ủy ban do nhà nghiên cứu bệnh học Walter Reed đứng đầu để tìm ra cách thức lây lan của bệnh sốt vàng da và cách ngăn chặn nó. Vì dường như chỉ có con người mới mắc bệnh, Reed và 3 đồng nghiệp trong ủy ban đã thiết kế một nghiên cứu thử nghiệm trên con người để kiểm tra lý thuyết hàng đầu về sự lây truyền bệnh sốt vàng: muỗi đốt. 

Nhà nghiên cứu bệnh học Walter Reed.
Nhà nghiên cứu bệnh học Walter Reed.

Yêu cầu cho tình nguyện viên mắc căn bệnh chết người sẽ phải được cân nhắc với trách nhiệm giữ an toàn cho các tình nguyện viên. Để tuân thủ mệnh lệnh cấp trên với rủi ro vốn có của nghiên cứu, ủy ban đưa ra một giải pháp mới: soạn một hợp đồng để các tình nguyện viên ký, cam kết họ hiểu những rủi ro của nghiên cứu.

Trong quá trình thử nghiệm, các nhà khoa học đầu tiên cho phép muỗi đốt để truyền bệnh. Khi tình nguyện viên bị ốm, Reed rà soát các mẫu máu để tìm vi khuẩn gây bệnh. Chaves-Carballo cho biết những người bị sốt vàng da được chỉ định nghỉ ngơi tại giường và nhịn ăn hoàn toàn ngoại trừ "một vài ngụm Champagne" và một số loại thuốc giảm đau. Các tình nguyện viên nhận được một khoản thanh toán khổng lồ là 100 USD cho mỗi vết muỗi đốt, và 100 USD khác nếu họ bị ốm. 

Trong vòng thử nghiệm đầu tiên, 11 tình nguyện viên bị muỗi đốt. Hai người ngã bệnh, và sống sót. Người đàn ông thứ ba bị ốm tên Jesse W. Lazear - một trong những nhà khoa học điều hành cuộc nghiên cứu - chết vì sốt vàng da 12 ngày sau đó. Mặc dù Reed đã cân nhắc việc kết thúc nghiên cứu sau cái chết của đồng nghiệp, nhưng thay vào đó, ủy ban đã đặt tên một trạm vệ sinh là Camp Lazear để vinh danh ông. Và đến năm 1901, Reed và ủy ban ra tuyên bố - thông qua thí nghiệm muỗi đốt - côn trùng truyền bệnh sốt vàng da. Việc cấy thêm các mẫu máu đã lọc của bệnh nhân sốt vàng da vào những người tình nguyện khác cho thấy một loại virus gây bệnh đầu tiên được phát hiện ở người.

Nghiên cứu chế tạo vaccine

Khi đã xác định được thủ phạm gây bệnh, Reed trở lại Đại học George Washington (sau đó là Đại học Colombia) để giảng dạy, còn các nhà khoa học khác bắt tay vào nghiên cứu chế tạo vaccine sốt vàng da. Bác sĩ quân đội Mỹ William Gorgas và bác sĩ gốc Cuba Juan Guiteras thành lập một trạm cấy cho một vòng nghiên cứu thử nghiệm trên con người ở Havana. Họ hy vọng có thể học cách gây ra các trường hợp sốt vàng da nhẹ do muỗi đốt để mang lại khả năng miễn dịch cho mọi người. 

Hơn 20 tình nguyện viên đăng ký tiêm chủng thử nghiệm đầu tiên vào năm 1901, trong đó có người phụ nữ duy nhất tham gia nghiên cứu - một y tá quân đội tên là Clara Maass. Maass bị muỗi đốt 5 lần mà không phát bệnh sốt vàng da, và nhận được 100 USD để gửi về nhà cho mẹ và 9 anh chị em ở New Jersey - một số tiền lớn so với mức lương hàng tháng của cô là 30 USD. Vết muỗi đốt thứ 6 của cô đã gây tử vong. Cô và hai tình nguyện viên khác đã bị nhiễm một chủng virus đặc biệt hung bạo và cả 3 đều chết vào tháng 8-1901.

Một bức tranh của Dean Cornwell thể hiện cuộc thử nghiệm cấy truyền bệnh sốt vàng da được thực hiện trước sự chứng kiến của Walter Reed.
Một bức tranh của Dean Cornwell thể hiện cuộc thử nghiệm cấy truyền bệnh sốt vàng da được thực hiện trước sự chứng kiến của Walter Reed.

Sự phản đối kịch liệt của công chúng ở Mỹ đã chấm dứt thí nghiệm ở Havana. Monica McArthur, bác sĩ nhi khoa và chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Trung tâm Phát triển Vaccine và Sức khỏe Toàn cầu của Trường Y Maryland, cho biết: "Trong rất nhiều nghiên cứu ban đầu, thí nghiệm của Walter Reed và các nghiên cứu khác, đã sử dụng những gì chúng ta coi là những quần thể dễ bị tổn thương - những người không thể tự do đồng ý tham gia hoặc đưa ra quyết định đầy đủ thông tin. Ví dụ, các tù nhân có thể được ghi danh vào các nghiên cứu".

Một ví dụ điển hình về nghiên cứu thử nghiệm dựa trên một nhóm dân số dễ bị tổn thương là nghiên cứu bệnh giang mai Tuskegee. Bắt đầu từ năm 1932, Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ (USPHS) tuyển dụng khoảng 600 người đàn ông Mỹ gốc Phi nghèo từ xung quanh Tuskegee, Alabama để nghiên cứu về mức độ xấu đi của bệnh giang mai theo thời gian. Khoảng 2/3 nam giới mắc bệnh giang mai, nhưng các bác sĩ nghiên cứu cho biết họ bị "máu xấu". 

Sau khi nhận được chẩn đoán rởm này, những người đàn ông đã được thuyết phục tham gia nghiên cứu để đổi lấy bữa ăn miễn phí, được vào bệnh viện điều trị chứng "máu xấu" và các bệnh lý không liên quan khác. Các nhà khoa học cũng cung cấp cho những người tham gia một khoản phụ cấp mai táng sẽ được trả cho những người sống sót sau khi họ qua đời.

Chỉ có khoảng một nửa số nam giới mắc bệnh giang mai vào những năm 1930 được điều trị bằng các liều arsen và thủy ngân độc hại. Các bác sĩ lấy máu và khám nghiệm tử thi sau khi những bệnh nhân này chết vì bệnh giang mai để tìm kiếm thêm thông tin về diễn biến tự nhiên của bệnh. Nghiên cứu kéo dài hàng thập niên và ngay cả sau khi cộng đồng y tế xác định rằng penicillin có thể chữa khỏi bệnh vào những năm 1940, những người đàn ông vẫn không nhận được thuốc.

Năm 1972, nhà báo Jean Heller của hãng tin Associated Press đưa nghiên cứu về bệnh giang mai Tuskegee ra ánh sáng và chia sẻ cách các bác sĩ tham gia nghiên cứu đã lừa dối những người đàn ông tham gia. Đến thời điểm đó, chỉ có 74 người đàn ông mắc bệnh giang mai vẫn sống sót. Sự phẫn nộ của công chúng dẫn đến quyết định hủy bỏ nghiên cứu vào 3 tháng sau báo cáo.

Trong khi nghiên cứu bệnh giang mai Tuskegee dựa trên những người tham gia đã bị bệnh, các nghiên cứu khác cho thấy những người khỏe mạnh mắc các bệnh chết người. Ví dụ, từ năm 1955 đến năm 1970, bác sĩ nhi khoa Saul Krugman cho hơn 50 trẻ em khuyết tật tâm thần mắc bệnh viêm gan để xác định các chủng khác nhau của bệnh và cuối cùng phát triển vaccine. Cuộc thử nghiệm diễn ra tại Trường tiểu học bang Willowbrook, một ngôi nhà dành cho trẻ em và người lớn bị khuyết tật ở đảo Staten, New York.

Nghiên cứu của Willowbrook, kết thúc vào năm 1970, tiết lộ sự tồn tại của các chủng virus gây viêm gan A và B và thúc đẩy sự phát triển của vaccine viêm gan B. Nhưng các nghiên cứu vẫn tiến triển ngay cả khi một số người trong cộng đồng y tế chỉ trích phương pháp của Krugman. Năm 1966, bác sĩ gây mê Henry K. Beecher xuất bản một bài luận mang tính bước ngoặt nêu chi tiết 22 ví dụ về nghiên cứu phi đạo đức diễn ra trên người - bao gồm các nghiên cứu về bệnh viêm gan - nhằm nâng cao nhận thức và chấm dứt các thực hành phi đạo đức vẫn tiếp diễn mặc dù đã tạo ra các hướng dẫn quốc tế về thử nghiệm trên người - đó là Bộ luật Nuremberg năm 1947 và Tuyên bố Helsinki năm 1964. 

Ngoài nghiên cứu Willowbrook, Beecher còn nhấn mạnh một nghiên cứu trong đó khối u ác tính - một dạng ung thư da nghiêm trọng - được chuyển từ một phụ nữ sang mẹ cô ấy "với hy vọng hiểu rõ hơn một chút về khả năng miễn dịch ung thư". Người phụ nữ qua đời cùng ngày mẹ cô được tiêm thuốc điều trị ung thư hắc tố nên các bác sĩ biết rằng căn bệnh ung thư gây chết người.

Kiểm soát chặt chẽ các nghiên cứu thử nghiệm trên người

Các nghiên cứu thử nghiệm con người trở nên ít phổ biến hơn sau thập niên 1970 sau kết luận về các nghiên cứu phi đạo đức gây chấn động dư luận. Kể từ đó, Tuyên bố Helsinki được sửa đổi 7 lần để làm rõ các tiêu chuẩn đạo đức đối với các thí nghiệm trên người - gần đây nhất là vào tháng 10-2013. Tuyên bố hiện tại nói rằng "Mặc dù mục đích chính của nghiên cứu y học là tạo ra kiến thức mới, nhưng mục tiêu này không bao giờ có thể được ưu tiên hơn quyền và lợi ích của cá nhân đối tượng nghiên cứu". 

Đại học Maryland sử dụng các nghiên cứu thử nghiệm trên người vào năm 2012 và 2013 để phát triển một loại vaccine phòng bệnh tả được FDA chấp thuận vào năm 2016. Các tình nguyện viên có thể đặt câu hỏi và tìm kiếm sự hướng dẫn từ bên ngoài, đồng thời phải vượt qua bài đánh giá do các nhà nghiên cứu soạn thảo để chứng minh rằng họ hiểu những rủi ro của một nghiên cứu.

Theo một tuyên bố của Đại học Hoàng gia London, vẫn cần có kế hoạch thử nghiệm được các cơ quan quản lý chính phủ phê duyệt trước khi các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu tuyển dụng người tham gia, an toàn của tình nguyện viên là ưu tiên số một. COVID-19 khác với các bệnh nghiên cứu thử nghiệm khác: cộng đồng nhà khoa học đã nghiên cứu nó trong vòng chưa đầy một năm, các bác sĩ không có phương pháp điều trị nào được chấp thuận để can thiệp nếu bệnh của một tình nguyện viên trở nên nghiêm trọng và bằng chứng ban đầu cho thấy COVID-19 có thể gây ra các tác động lâu dài thậm chí ở những người trẻ tuổi, trước đây khỏe mạnh. 

Nghiên cứu của Đại học Hoàng gia London nhằm mục đích đầu tiên là xác định liều lượng virus tối thiểu cần thiết để gây bệnh. Nghiên cứu sẽ sử dụng liều lượng virus đó để nghiên cứu cách vaccine hoạt động trong cơ thể để ngăn chặn COVID-19, xem xét các phương pháp điều trị tiềm năng và nghiên cứu phản ứng miễn dịch. Cộng đồng y sinh vẫn còn chia rẽ về việc liệu một nghiên cứu như vậy có nên được thực hiện hay không, với tất cả những điều chưa biết xung quanh COVID-19.

Duy Ân (tổng hợp)

Các tin khác

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Tên lửa đất đối không Koral (đôi khi cũng được viết là Coral) dường như đã ra mắt công chúng như một phần trong loạt hệ thống vũ khí nội địa mới của Ukraine được giới thiệu gần đây.

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Các thí nghiệm trên tàu con thoi vũ trụ đã chỉ ra rằng vi khuẩn Salmonella, một nguồn gây ngộ độc thực phẩm phổ biến và đôi khi gây tử vong, trở nên độc hại hơn trong không gian. Đó là nghiên cứu được thực hiện trên chuyến bay STS-115 của tàu Atlantis năm 2006 và STS-123 của tàu Endeavour hai năm sau đó...

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Những lọ tinh dầu nhỏ gọn, mang vẻ ngoài vô hại như dung dịch thuốc nhỏ mắt hay tinh dầu thuốc lá điện tử đang trở thành lớp vỏ ngụy trang tinh vi cho các chất ma túy thế hệ mới. Không chỉ dừng lại ở việc sử dụng, mà đau lòng hơn, nhiều em học sinh còn mua bán, tàng trữ ngay trong môi trường học đường, gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng mua bán ma túy ngày càng trẻ hóa.

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Những ngày gần đây, các địa phương trên cả nước đang tất bật triển khai công tác tuyển sinh đầu cấp. Với thành phố đông dân, tập trung nhiều trường học như Thủ đô Hà Nội, công tác tuyển sinh càng được chú trọng thay đổi; từ khâu đăng ký dự thi, tra cứu thông tin đến công bố kết quả triển khai đồng bộ các nền tảng trực tuyến, mang lại sự thuận tiện và minh bạch hơn cho phụ huynh, học sinh.

Một quyết định tháo gỡ

Một quyết định tháo gỡ

Chiều 5/12/2025, với 439/443 đại biểu biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua thông Luật Giám định tư pháp sửa đổi, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/5/2026. Luật này đã khôi phục “quyền” giám định pháp y thương tích trên người sống của các bác sĩ pháp y CAND…

Một vụ mạo danh và sự ra đời của pháp lý về danh tính

Một vụ mạo danh và sự ra đời của pháp lý về danh tính

Giữa thế kỷ XVI, tại một ngôi làng nhỏ miền Nam nước Pháp, một người đàn ông trở về sau nhiều năm mất tích và được cả cộng đồng thừa nhận là Martin Guerre. Ông được vợ chấp nhận, được gia đình đón nhận, thậm chí tham gia các tranh chấp tài sản như một chủ hộ thực sự. Chỉ có một sự thật mà không ai nhận ra trong nhiều năm: ông không phải Martin Guerre. Vụ án sau đó không chỉ là câu chuyện về một kẻ mạo danh, mà còn trở thành một trong những hồ sơ đầu tiên đặt nền móng cho tư duy pháp lý về danh tính con người - một vấn đề mà hơn 4 thế kỷ sau vẫn còn nguyên tính thời sự.

Chúng ta quá dễ bị tổn thương khi dữ liệu trở thành vũ khí

Chúng ta quá dễ bị tổn thương khi dữ liệu trở thành vũ khí

Cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran mới đây nhắm vào trung tâm dữ liệu của các hãng công nghệ lớn tại Trung Đông bất ngờ gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với thế giới: cơ sở hạ tầng dữ liệu đã chuyển từ tài sản thương mại thành mục tiêu chiến lược.

Cuộc chạy đua tên lửa dẫn đường chính xác

Cuộc chạy đua tên lửa dẫn đường chính xác

Các cường quốc hàng đầu hiện đang bắt đầu hiểu được những thay đổi mang tính cách mạng do tiềm năng sử dụng rộng rãi các loại vũ khí chính xác tầm xa mang lại. Ở quy mô mà tên lửa chiến thuật có thể được sản xuất và triển khai hàng nghìn chiếc, tên lửa hành trình hàng chục nghìn chiếc và máy bay không người lái cảm tử tầm xa hàng triệu chiếc mỗi năm, tác động của chúng sẽ tương đương với vũ khí hạt nhân, ít nhất là ở cấp độ chiến thuật. Tất nhiên, giải pháp tối ưu sẽ luôn là sự kết hợp của cả hai, nhưng hoàn toàn có thể trong vòng 5 đến 10 năm tới, chính các loại vũ khí tầm xa, độ chính xác cao sẽ có khả năng giải quyết nhiệm vụ chính là đánh bại kẻ thù từ xa mà không cần sử dụng máy bay có người lái.

Những vũ khí mới Mỹ tấn công Iran được nâng cấp từ chính vũ khí nổi tiếng của Tehran

Những vũ khí mới Mỹ tấn công Iran được nâng cấp từ chính vũ khí nổi tiếng của Tehran

Cuộc chiến với Iran đang trở thành nơi thử nghiệm cho các loại vũ khí mới nhất của Mỹ. Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng một số loại vũ khí mới để thực hiện các cuộc tấn công chống lại Tehran. Chúng bao gồm tên lửa đạn đạo tầm ngắn và máy bay không người lái (UAV) tấn công giá rẻ. Loại này được Mỹ cải biên từ công nghệ UAV của Iran. Các nhà quan sát cũng phát hiện ra một biến thể mới của tên lửa hành trình phóng từ tàu chiến.

Data “nóng” lên sàn “chợ đen”

Data “nóng” lên sàn “chợ đen”

Bỗng một ngày nào đó, người ta bàng hoàng khi phát hiện hình ảnh của mình bị rao bán trên mạng với cảnh nhạy cảm, bị cắt ghép, chắp vá thành những món hàng “nóng” và bị trao đổi, mua bán như mớ rau, cân cá trên “chợ đen”. Đây là thực trạng đáng báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và nhân phẩm con người, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho cộng đồng và xã hội...

DNA và vụ án “giết người chưa từng gặp”

DNA và vụ án “giết người chưa từng gặp”

DNA của một người vô gia cư Mỹ được tìm thấy dưới móng tay một nạn nhân bị giết, nhưng anh chưa từng gặp người đó trong đời, và từ nghịch lý này, một sự thật lộ ra: thứ được coi là bằng chứng chắc chắn nhất lại có thể đẩy một người vô tội đến sát bờ vực bị kết án.

Công nghệ kỹ thuật số tham chiến tại Trung Đông

Công nghệ kỹ thuật số tham chiến tại Trung Đông

Khi công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ kỹ thuật số ngày càng được sử dụng nhiều trong hoạt động quân sự, chiến sự giữa Mỹ, Israel và Iran cho thấy cách thức tiến hành chiến tranh đang thay đổi nhanh chóng. Khi dữ liệu trở thành mục tiêu và AI trở thành công cụ ra quyết định, ranh giới giữa chiến tranh truyền thống và chiến tranh công nghệ cao gần như bị xóa nhòa.

AI tái định nghĩa ưu thế quân sự?

AI tái định nghĩa ưu thế quân sự?

Mới đây, một công ty công nghệ quốc phòng Trung Quốc tuyên bố hệ thống AI của họ đã phát hiện tín hiệu từ máy bay ném bom tàng hình B-2 của Mỹ và dấu hiệu huy động quân sự nhiều tuần trước khi cuộc xung đột với Iran leo thang.

Tên lửa bí ẩn từ vũ trụ của Israel

Tên lửa bí ẩn từ vũ trụ của Israel

Việc Israel sử dụng tên lửa Blue Sparrow đã thu hút sự chú ý toàn cầu vì quỹ đạo bay bất thường, tốc độ cao và khả năng tấn công các vị trí được phòng thủ kiên cố mà không cần nhiều cảnh báo.

Vụ rò rỉ hơn 16 tỷ mật khẩu lớn nhất lịch sử

Vụ rò rỉ hơn 16 tỷ mật khẩu lớn nhất lịch sử

Hơn 16 tỷ mật khẩu và thông tin đăng nhập bị phơi bày trên không gian mạng đã tạo ra cú sốc lớn đối với giới an ninh toàn cầu. Vượt ra ngoài con số kỷ lục, vụ rò rỉ đã phơi lộ một thực tế đáng lo ngại: các lỗ hổng an ninh đang âm thầm kết nối, và chuyển hóa thành mối đe dọa có tính hệ thống.

Cuộc chiến quyền lực kỹ thuật số

Cuộc chiến quyền lực kỹ thuật số

Việc kiểm soát các tuyến cáp quang ngầm dưới biển, huyết mạch của mạng Internet toàn cầu, đã trở thành chiến tuyến mới trong cuộc chiến giành quyền lực kỹ thuật số. Trong các vùng biển tranh chấp, sức mạnh thường được coi là một màn trình diễn.

ChatGPT - vũ khí của nữ sát thủ

ChatGPT - vũ khí của nữ sát thủ

Một phụ nữ 21 tuổi ở Hàn Quốc vừa bị cáo buộc đã sử dụng phần mềm ChatGPT để giúp trả lời các câu hỏi khi cô ta lên kế hoạch cho một loạt vụ giết người khiến hai người đàn ông thiệt mạng và một người khác bất tỉnh trong giây lát.