Kỷ niệm 70 năm Đề cương văn hoá Việt Nam (1943-2013)

Những bài học còn nguyên giá trị

Trong bài nói chuyện tại Đại hội thành lập Hội Điện ảnh Việt Nam (tháng 1/1969), nhân nhắc tới cái kết có phần bi lụy của phim "Chim vành khuyên", đồng chí Trường Chinh đã đề ra một giải pháp sửa đoạn kết, nhưng ông khiêm tốn: "Nếu tôi là tác giả truyện phim, thì tôi làm..." và "đối với ý kiến của tôi, các đồng chí có thể đồng ý hay không đồng ý...". Theo quan điểm của ông: "Nếu chỉ căn cứ vào ý kiến riêng của mình thôi, thì dù nhà phê bình giỏi mấy cũng không phê bình tốt được"...

Ngày 18/9 vừa qua, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học "70 năm Đề cương văn hóa Việt Nam" (1943-2013). Tại cuộc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã khẳng định: "Đề cương văn hóa Việt Nam do cố Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo, là văn kiện có giá trị vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc của Đảng ta, được coi là tuyên ngôn của Đảng về một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng mà chúng ta xây dựng. 70 năm đã qua, dân tộc ta, Đảng ta đã trải qua những chặng đường gian khổ, hào hùng, làm nên những thắng lợi vẻ vang. Bối cảnh tình hình và điều kiện cụ thể đã có nhiều đổi thay, nhưng những nội dung cốt lõi của Đề cương văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị".

Nhà báo Hữu Thọ phát biểu tại Hội thảo khoa học "70 năm Đề cương văn hóa Việt Nam" (1943-2013) do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch tổ chức ngày 18/9 vừa qua.

Nhà báo Hữu Thọ phát biểu tại Hội thảo khoa học "70 năm Đề cương văn hóa Việt Nam" (1943-2013) do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch tổ chức ngày 18/9 vừa qua.

Như vậy, đã chẵn bảy thập niên trôi qua kể từ ngày Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời. Còn nhớ, năm 2007, nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Trường Chinh, một tờ báo có đặt tôi viết bài "Đọc sách" về cuốn "Về văn hóa văn nghệ" của đồng chí Trường Chinh do NXB Văn học ấn hành trước đó một năm. Đọc cuốn sách, tôi tìm vào bản Đề cương văn hóa Việt Nam trước nhất, vì đối với giới văn nghệ, đây có lẽ là cuốn sách của đồng chí Trường Chinh được các nhà văn nhắc tới nhiều nhất (tôi từng đọc thấy trong hồi ký của các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyên Hồng việc họ sôi nổi bàn luận về bản đề cương này ra sao). Tuy nhiên, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy trong mục lục của cuốn sách dày tới gần 1.000 trang nói trên, không có bài nào có tên là Đề cương văn hóa Việt Nam (trong khi ở phần tiểu sử đồng chí Trường Chinh in đầu sách thấy có nói bản Đề cương văn hóa Việt Nam là do đồng chí soạn thảo). Tôi đem thắc mắc này trao đổi với ông Nguyễn Cừ, bấy giờ là Giám đốc NXB Văn học thì được ông Nguyễn Cừ giải thích: "Bài này, mặc dù trong hồi ký của một số nhà hoạt động văn hóa, xã hội đều thấy nói người chấp bút là đồng chí Trường Chinh, nhưng về danh chính ngôn thuận thì thuộc văn kiện của Đảng. Tuy nhiên, ở phần đầu sách, đọc bài "Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này", ta có thể thấy nội dung cơ bản là giống với bản "Đề cương văn hóa" nói trên".

Có thể nói, một thời gian dài, đặc biệt là trong những năm chiến tranh, khi suy xét một tác phẩm, các nhà lý luận, phê bình văn học của ta còn nặng về "lý", bởi thế mà họ hay có những bắt bẻ khiến giới sáng tác không thực "tâm phục khẩu phục" (như nhà văn Nguyễn Tuân có lần than trách là họ vào hàng phở lại đòi ăn… cơm), buộc những người này phải gỡ gạc rất vất vả, thậm chí phải kêu cầu các đồng chí lãnh đạo cấp cao có ý kiến bênh vực mới êm chuyện. Đọc những bài viết về văn hóa văn nghệ của đồng chí Trường Chinh, điều tôi nhận thấy trước nhất ở ông là trước một vấn đề, bao giờ ông cũng có cách nhìn nhận rạch ròi, yêu ghét phân minh. Trong mỗi nhận định của ông, ta luôn thấy sự kết hợp hài hòa giữa "tình" và "lý", có những chỗ có thể gọi là "thấu tình đạt lý".

Trong bản báo cáo "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" đọc tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II, tháng 7/1948, sau khi đề cập tới việc "Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học, nghệ thuật đi đôi với phong trào "vui vẻ, trẻ trung" có tính chất trụy lạc của thanh niên, trí thức, tư sản thành thị", đồng chí Trường Chinh không quên ghi nhận những đóng góp nhất định của nhóm Tự lực văn đoàn: "Dù sao, hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cùng đã góp phần đẩy mạnh phong trào văn nghệ nước ta tiến lên một bước ngắn". Có thể nói, những ý kiến trên đã định hướng cho các nhà phê bình của ta sau này khi nhận định, đánh giá về một số nhà văn, nhà thơ giai đoạn tiền chiến mỗi dịp tác phẩm của họ được tái sử dụng.

Trong bản báo cáo được trình bày tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II (24/2/1957), sau khi nêu lên một số "căn bệnh" mà anh em văn nghệ sĩ mắc phải sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, đồng chí Trường Chinh cũng không quên chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên: "Về lãnh đạo sáng tác, đã có những quan điểm giản đơn, thiển cận về vấn đề văn nghệ phục vụ chính trị, dẫn tới chỗ coi nhẹ trách nhiệm cá nhân, ít khuyến khích sự suy nghĩ, tìm tòi của từng người...". Có thể nói, trong thời điểm nhạy cảm, có nhiều vụ việc nổi cộm trong giới văn nghệ, bản báo cáo này đã cho thấy sự nghiêm khắc trong việc nhận chân vấn đề của đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng.

Cũng trong bản báo cáo nói trên, đồng chí Trường Chinh đã vận dụng câu nói của Lênin để bảo vệ tính độc lập suy nghĩ của nhà văn. Theo quan điểm của ông: "Riêng trong lĩnh vực khoa học và nghệ thuật không thể lấy đa số thống trị thiểu số".

Trong bài nói chuyện tại Đại hội thành lập Hội Điện ảnh Việt Nam (tháng 1/1969), nhân nhắc tới cái kết có phần bi lụy của phim "Chim vành khuyên", đồng chí Trường Chinh đã đề ra một giải pháp sửa đoạn kết, nhưng ông khiêm tốn: "Nếu tôi là tác giả truyện phim, thì tôi làm..." và "đối với ý kiến của tôi, các đồng chí có thể đồng ý hay không đồng ý...". Theo quan điểm của ông: "Nếu chỉ căn cứ vào ý kiến riêng của mình thôi, thì dù nhà phê bình giỏi mấy cũng không phê bình tốt được".

Lại nhớ, khi trao đổi với nhà lý luận, phê bình văn học, TS Phan Hồng Giang về cuốn sách của đồng chí Trường Chinh, tôi đã được ông kể cho nghe câu chuyện: Đầu năm 1975, Tạp chí Tác phẩm mới có in một bài viết dài của Phan Hồng Giang về cuốn "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" của đồng chí Trường Chinh, bản in lần thứ 2 (1974). Lúc ấy, trong giới văn nghệ đang xảy ra một số vụ việc khiến dư luận xì xầm. Có những vị trong giới nghiên cứu phê bình đã "mượn" cuốn sách của đồng chí Trường Chinh để "quy chụp" cho một số tác giả điều này tiếng nọ. Phần Phan Hồng Giang, ông lại có ý nghĩ khác. Ông cho rằng quan điểm của đồng chí Trường Chinh về văn hóa văn nghệ là khá cởi mở, thuận cho cá tính sáng tạo. Bởi vậy, mục đích viết bài của ông là phân tích những ý kiến của đồng chí Trường Chinh để bênh vực cho giới văn nghệ. "Tôi nhớ suốt buổi chiều hôm đó, tại Văn phòng Quốc hội ở 35 Ngô Quyền, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đã làm việc với tôi về bài viết này - TS Phan Hồng Giang nhớ lại - Phải nói, quan điểm của ông rất sòng phẳng. Như đoạn tôi nói về tác dụng của nghệ thuật đối với cuộc sống, tôi có nhắc tới thơ Bác Hồ, thơ Tố Hữu và thơ Sóng Hồng (bút danh của đồng chí Trường Chinh). Trong quá trình "sơ duyệt", lãnh đạo tạp chí đã đảo lại vị trí thơ Sóng Hồng lên trước vị trí thơ Tố Hữu. Nhưng khi Trường Chinh đọc lại, ông chuyển vị trí thơ ông xuống sau vị trí thơ Tố Hữu, như ở bản đầu tôi viết...".

Nhắc lại điều ấy để thấy, với văn học nghệ thuật, đồng chí Trường Chinh luôn thể hiện một thái độ thực sự cầu thị, "biết mình biết người", không lấy chức vụ để thay thế cho tài năng

Nguyễn Trường Văn

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.