Nhớ về ông, nhà điêu khắc tài hoa

Nhà điêu khắc Nguyễn Đức Thục (1883 - 1945) là ông ngoại tôi. Mẹ tôi là con gái thứ của cụ. Cụ có hai bà. Bà ngoại của tôi là bà cả. Bà ngoại sinh ra bác tôi, mẹ tôi và cậu tôi là nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Bà hai sinh ra ba dì và một cậu nữa. Trong đó, hai dì tôi là hai người con gái cực đẹp.

Dòng ngoại của tôi quê ở Quế Ổ, cách thị xã Bắc Ninh vài cây số. Làng này là một làng nghề, có từ rất lâu đời. Ông ngoại tôi, nghề gốc gác là thiết kế đồ gỗ. Người trong họ truyền lại rằng ông tôi giỏi nghề khi chỉ mới mười lăm mười sáu tuổi. Nói đến đồ gỗ bao gồm hàng trăm thứ, từ bàn ghế giường tủ, rồi sập gụ tủ chè, tủ đứng chứa quần áo và các đồ dùng của một gia đình, đến tất cả các loại tủ; rồi ghế cũng đủ các loại, cho đến chiếc ghế mà trong hoàng cung gọi là ngai. Chỉ riêng ghế với bàn cũng có tới hàng trăm thứ để đáp ứng cho đủ các loại phòng ốc. Kèm theo với ghế và bàn là hàng nghìn họa tiết…

Cụm tượng con trâu, nông dân vác cày được dựng ở vườn hoa Chí Linh (Hà Nội) trước đây do nhà điêu khắc Nguyễn Đức Thục thực hiện.

Cụm tượng con trâu, nông dân vác cày được dựng ở vườn hoa Chí Linh (Hà Nội) trước đây do nhà điêu khắc Nguyễn Đức Thục thực hiện.

Theo lời kể lại, truyền lại thì ông ngoại tôi là một người vô cùng sáng dạ, thông minh. Ông cũng lại là người rất khéo tay, tới mức có những họa tiết cổ từ nhiều đời truyền lại, ông tôi đều tạc được, biên, kê được ra và dựng nên. Một cặp ghế tựa có lưng tựa thẳng và vững chãi, với hai tay ghế để làm hai chỗ đỡ tì hai cánh tay có chi tiết các họa tiết phỏng theo chim muông, trông như chim sa cá lặn, mây bay v.v... đều do ông ngoại của tôi cùng với các cụ khác trong làng Quế Ổ vẽ ra dựng nên; sau  đó đưa vào khâu chế tác sơn son thếp vàng. Nếu các bộ bàn ghế đó vào các nhà đại thần, chúng sẽ được phủ một lớp sơn mài với các họa tiết rất khéo léo như chim sa, cá lặn, núi non sơn thủy hữu tình...

Ông ngoại tôi dựng nên hàng trăm, hàng ngàn các họa tiết, nội dung của các họa tiết này là những cảnh trí, chim muông, các con thú yêu... Từ nghề này, khi đã hoàn toàn làm chủ được các kỹ năng khó nhất, ông ngoại tôi nghiền ngẫm sang nghề khác như tạc tượng. Ông tạc cả phù điêu để đáp ứng đòi hỏi cho các thợ dựng đình, đền, chùa của khắp các làng quê của Bắc Ninh và các tỉnh xung quanh, theo nhu cầu tế tự của cõi tâm linh người Việt ta thời bấy giờ. Chúng ta đều biết, qua tám triều vua Lý, tỉnh Bắc Ninh có thể ví như hậu cung của các Hoàng đế nhà Lý dằng dặc nối ngôi nhau trị vì non sông. Đó là một thời vô cùng huy hoàng, một thời thái bình thịnh trị với văn nghiệp hiển hách, với võ công oai hùng. Tỉnh Bắc Ninh thời ấy khác xa bây giờ. Diện tích thực nhỏ hơn nhiều, số làng xã ít hơn nhiều, đâu như khoảng bảy tám chục làng xã thôi. Nhưng số làng nghề toàn tòng có tới sáu bảy chục làng…

Thời bấy giờ các làng nghề ở Bắc Ninh đều có một tiêu chuẩn là làm ra những sản phẩm để tiến Vua. Vì Vua và Hoàng tộc là người ngay trong tỉnh này. Đáp ứng được nhu cầu cao cấp tột bậc đó, cũng là một tiêu chí mang tính động viên tưởng thưởng. Nhất là các sản phẩm đồ gỗ mà thợ nghề ở làng của ông ngoại tôi và các làng khác chế tác, thì nhà vua và Hoàng tộc trực tiếp sử dụng, do vậy các sản phẩm đó có thể nói đã vào phẩm cấp liệt hạng.

Cho đến năm người Pháp bắt đầu xây Nhà hát Lớn thành phố, ông ngoại tôi được Hội đồng xây dựng Nhà hát của Pháp triệu tập để thiết kế các hoa văn nội thất của Nhà hát như hoa văn trên vòm trần, hoa văn trên đường viền sân khấu, hoa văn chạy dọc chạy ngang ở những chỗ cửa ra vào, cửa ngách, hành lang v.v... Nhà hát Lớn thành phố là Nhà hát được sao lại một cách cẩn thận và chi tiết từ một nhà hát ở Thủ đô Paris (cái năm Cộng hòa Pháp giúp Hà Nội sửa chữa lớn Nhà hát cách đây ít lâu,  họ đã đem theo sang Việt Nam toàn bộ các bản thiết kế các họa tiết và hoa văn được vẽ bằng ngòi bút của ông ngoại tôi. Tôi đã được thấy tận mắt: Mỗi khúc hoa văn nếu kết đoạn, đều có chữ ký của ông ngoại tôi).

Sau này, người Pháp gọi ông ngoại tôi về Hà Nội dạy thiết kế đồ gỗ ở Trường Bách Nghệ. Học sinh theo học bấy giờ có ông Ngô Gia Khảm và ông Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt). Người Pháp còn đưa ông ngoại tôi vào làm giám thị ở Trường Mỹ thuật Đông Dương. Ở đây mới mở khoa đồ họa, là môn mà ông ngoại tôi rất giỏi.

Cái năm tôi lên 5, lên 6 tuổi, tôi hay được ở với ông ngoại tôi (nhà ở Phố Huế). Tôi nhớ chỗ làm việc của ông tôi là một phòng rộng để đầy tượng. Sau này tôi được mẹ tôi kể lại: Một hôm người Pháp đến bảo với ông ngoại tôi là tham gia dựng một cụm tượng tại vườn hoa Chí Linh mà thời đó gọi là vườn hoa Canh Nông. Trong cụm tượng đó, trên đỉnh một bệ cao là cụm lính Pháp đứng chĩa súng về phía Cột Cờ trong Hoàng thành, còn dưới chân cái bệ đá là cụm tượng có người nông dân vác cầy trên vai và đi sau một con trâu. Ông ngoại tôi đã dứt khoát từ chối việc nặn cụm lính Pháp (có hai tên) ở trên đỉnh bệ cao, với lý do là ông tôi không có chuyên môn về nặn tượng lính Tây. Còn phần dưới cụm con trâu, nông dân vác cầy thì ông ngoại tôi nhận làm, vì lý do tại sân nhà cụ ở quê, cụ đã có sẵn cụm tượng đó. Cụ tạc cụm tượng này là do cụ thích và yêu những gì có ở quê hương. Khi người Pháp đến đặt ông ngoại tôi về chuyện tượng đài ra về rồi, thì mẹ tôi hỏi ông ngoại tôi: "Vì sao thầy không nhận tạc hai anh lính Pháp đó?". Ông tôi cười nói: "Để ngày nào hai cái anh ấy cũng chĩa súng về phía Cột Cờ của Hoàng thành à? Đó là mối nhục, con nghe chưa". Trong ba cô con gái của ông ngoại tôi, ông yêu quý mẹ tôi nhất. Ông hay bảo mẹ tôi ngồi làm mẫu cho ông nặn các bức tượng mà ông dự định làm.

Thế rồi, một ngày, có một người Ấn Độ đến gặp ông ngoại tôi và đặt một bức tượng chân dung ông ấy. Mẹ tôi kể, cứ ba tháng nghỉ hè, ông ngoại tôi tạc được 2 bức tượng. Mỗi bức ông ngoại tôi bán được 500 đồng Đông Dương. Số tiền ấy đủ cho ông tôi mua được hai tòa nhà mặt phố. Các con của ông ngoại tôi mỗi người đều được ông cho một tòa nhà.

Ông ngoại tôi bằng lòng nặn tượng cho người Ấn Độ đó. Trong lúc ngồi để ông ngoại tôi nặn tạc, người nọ trông thấy các bản vẽ thiết kế đồ gỗ treo quanh phòng. Ông ấy lên tiếng hỏi. Khi ông ngoại tôi nói lai lịch các bản vẽ thì người Ấn Độ ấy cho biết ông ta là một chủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ông ta vui mừng bảo ông ngoại tôi là ông ta muốn nhập các sản phẩm này, và muốn đặt ở Hà Nội một xưởng chế tạo các sản phẩm đồ gỗ xuất sang Ấn Độ. Ông ngoại tôi nhận lời và cũng nhận luôn ở ông ấy kỹ thuật chế tạo Cà ri và cho bà ngoại tôi đứng tên mở chi nhánh chế tạo bột Cà ri tại Hà Nội, rồi sản xuất bán ra cả nước, làm gia vị rất thơm ngon cho các bếp của các gia đình.

Ông ngoại tôi mất năm 1945. Năm 1947, cả nhà chúng tôi tản cư lên Việt Bắc. Trên nhà của ông ngoại tôi cơ man là những bức tượng đẹp. Chúng đã bị thiêu hủy toàn bộ trong công cuộc tiêu thổ kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta

Bùi Bình Thi

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.