Tôi gặp Phạm Tiến Duật lần đầu tiên vào năm 1985 tại gian nhà tuềnh toàng ở khu tập thể của vợ chồng anh. Cuộc gặp này được "thiết kế" thông qua anh của Nguyễn Mạnh - em ruột người bạn thân cùng chiến hào với tụi tôi năm xưa, cũng là em kết nghĩa với anh Duật, người mà năm nào Phạm Tiến Duật yêu thương, cảm động làm thơ tặng "Cậu em ở xí nghiệp nhạc cụ Hà Nội, hay mang mùn cưa về cho anh Duật nấu bếp" thời bao cấp... Nay Nguyễn Mạnh sống ở Muenchen...
Kỉ niệm này chôn sâu trong tôi, bởi vì đấy là lần đầu tiên tôi tập viết truyện ngắn, mang tới anh bản thảo đầu tay "Rồi chúng con trở lại quê hương" mà trước đó đã được thi sĩ Đỗ Bạch Mai đọc (bấy giờ chị làm ở Ban bạn đọc), sau đó đưa ngay cho Bế Kiến Quốc thẩm định và kế đó là Trưởng ban văn xuôi Ngô Ngọc Bội duyệt. Các anh đã đưa vào kế hoạch in... Tôi nghe lời bạn chiến hào, đưa bản thảo tới để nghe ý kiến của một nhà thơ, một người tôi rất yêu kính. Thời chinh chiến, thơ anh đã sưởi ấm lòng tôi và bè bạn trong những cánh rừng...
Khi vừa bước vào, tôi thấy một vị khách của anh Duật ngồi sẵn và thấy sắc mặt anh Duật không vui. Hóa ra đó là một người làm thơ tới nhờ anh việc gì đó...Tôi không rõ họ có vấn đề gì với nhau, mà sau khi anh ta ra về, anh Duật vẫn giữ vẻ không vui, lạnh lùng đón bản thảo truyện ngắn của tôi từ tay người bạn của hai người. Anh Duật lật lật mấy trang viết tay chi chít, ngước đôi mắt to, hơi có tí men, quan sát rất nhanh khuôn mặt có vẻ chả lương thiện hiền lành gì của tôi - khuôn mặt tự tôi biết - phong trần 11 năm chiến cuộc, 1 năm thất nghiệp làm đủ việc để tồn tại... Xong, anh Duật buông thõng một câu:
- Cậu muốn trở thành nhà văn hả? Muốn làm văn trước phải học đạo làm người đã...
Hãy thứ lỗi cho tôi, nếu giờ đây anh Duật có đội mồ đứng dậy, chắc anh không trách. Tôi cảm giác như có roi quất vào mặt, tôi đã đứng phắt lên. Nhanh như chớp, tôi giật phắt bản thảo. Tôi đứng dậy nói một thôi một hồi, không còn nể gì, cả anh bạn nối khố ở chiến hào đã tận tình đưa tôi đến diện kiến thi sĩ - Người Thơ Phạm Tiến Duật mà tôi bao năm ngưỡng mộ:
- Thưa anh. Em thật hoàn toàn thất vọng. Em tới đây nhờ anh đọc truyện ngắn đầu tay này, bởi vì em không một ngày học văn, nợ đời mà viết, nhân vì thấy bây giờ vẫn nhìn chiến tranh như toàn nói dối. Em đã nộp bản thảo này và anh Ngô Ngọc Bội đã bảo anh Quốc biên tập để in số sau. Em tin bạn em, Tỉnh là lính cùng đơn vị, cũng là chỗ thân với anh. Chúng em muốn nhờ anh đọc, mà chỉ cho em sự non bấy nếu có ở câu chuyện này, khi cấu thành một tác phẩm văn học. Chứ em không có ý định nhờ anh dùng uy tín và tựa vào quyền lực của anh để in. Việc dạy em về văn là cần, rất cần, em mong, song dạy làm Người thì thưa không cần. Em đã có, trước là cha mẹ tức cậu mợ em, sau là những người lính và cả những bài thơ trong đó có thơ anh. Bây giờ em đã là Người, không cần anh phải nói câu nói đó. Xin lỗi anh, em không cần anh đọc bản thảo này nữa, bởi vì anh chưa hiểu hết lẽ sống của chính những người đã được anh ca ngợi...
Tất cả sững sờ. Tôi run bắn, cả bàn tay cầm bản thảo cũng run.
Chỉ xíu nữa tôi đã giáng cho anh Duật một cú đấm, nếu tôi không lập tức tự biết là lỗi ở mình: Tôi đã tới thăm anh một cách chân thành, như có "ba bát da sành, có rá cơm nguội" mà không bày ra cửa số tròn (một quẻ ở Kinh dịch bàn, nói về phép ứng xử ở đạo trên dưới - TG). Tôi tới đúng khi anh đang tức giận ai chăng? Song khi đó tôi vẫn giận anh vô cùng. Bởi từ trước tới lúc bấy giờ, chưa một ai dám xúc phạm tôi như thế. Kể cả các vị tướng.
Nói xong, tôi gật đầu: "Em chào anh" và quay phắt ngay ra cửa:
- Tỉnh, về thôi mày!
Nguyễn Tỉnh, bạn thân của tôi ngơ ngác vì không ngờ tình huống xấu như vậy...
Nhưng lập tức anh Duật tỉnh phắt. Anh đứng lên chặn tôi, nhẹ nhàng dìu tôi xuống ghế:
- Em ngồi đây uống nước đã. Để đây anh xem.
Nói xong anh Duật cầm, gỡ lấy bản thảo truyện ngắn từ tay tôi...
Tôi ngồi xuống với bạn Tỉnh của tôi và chỉ muốn òa khóc.
Khi ấy Tỉnh lại cười cười nói: "Anh Duật ạ, thằng bạn em nó nóng lắm, xin anh hiểu".
Anh Duật im lặng, tráng chén, ấm, pha trà mới.
Tiếp đó là các câu hỏi với câu trả lời nhát gừng, lạnh tanh của tôi: Tôi đã viết từ năm nào, lí do tôi viết lại hôm nay, tôi là con cái nhà ai?
Câu chuyện tẻ, nhạt hoét.
Anh Duật ngồi trầm tư mấy phút. Tôi cáo anh xin về.
Tôi ra về, mang theo nỗi buồn, suốt đêm trằn trọc. Tôi không biết rằng, ngay đêm ấy anh Duật đã đọc, biên tập rất cẩn thận và viết tay các dòng nhận xét rất chân thật, sòng phẳng, nhưng đầy tình ưu ái "một người đồng đội cũ, người em bắt đầu bước vào con đường đầy khó khăn và chông gai". Mãi về sau thân rồi anh mới nói lại. Sau mấy dòng nhận xét xéo trên trang giấy, anh kí rất trân trọng, ghi rõ Phạm Tiến Duật.
Mãi tới ba hôm sau, Bế Kiến Quốc mới gọi điện và cho tôi xem bản thẩm định ấy rồi nói:
- May quá, tôi không cắt ông nhé...Ông may mắn lắm đấy, gặp Mai rồi lại gặp bậc thầy biên tập thơ và văn xuôi ở báo này.
Tôi ngồi ở phòng ban văn xuôi Tuần Báo Văn Nghệ, đọc lại rất kĩ bản thảo mà anh Duật chữa từng dấu phẩy, từng lỗi chính tả, cả câu tôi tả năm 1972 tôi quàn xác bạn tôi trong rừng, "những thanh lồ ô chẻ đôi, úp ken sát nhau thay áo quan, tôi gói anh trong cái tấm nilon bom bi xiên thủng mấy lỗ" ra sao. Và, tôi khóc.
Truyện ngắn đầu tay ấy mang dấu ấn của ba người ân tình suốt cả đời văn của tôi sau này. Tới hôm nay tôi có thể tự hào nói, tôi là một cây bút truyện ngắn khá vững vàng là khởi từ nguồn ấy. Phạm Tiến Duật đã luôn luôn mắng yêu, thúc giục tôi cầm bút mỗi khi gặp nhau trong gần 10 năm tôi xa rời văn chương: Em phải viết… đừng bỏ em ạ! Tôi cũng là người biết rõ mọi đau khổ của anh Duật trong sinh hoạt, trong tình ái, trong nhiều hệ lụy. Một người nghệ sĩ dù lớn lao bao nhiêu, nổi tiếng bao nhiêu, sau trước vẫn là một con người. Họ có thể bị cuốn vào cơn lốc của những hoàn cảnh bất khả năng tự vệ...
Phạm Tiến Duật là Một Con Đường, Một Đại Lộ của thi ca cách mạng những năm chống Mỹ...Như trời định, những năm tháng ác liệt gian nan ấy, ngoài chiến trường, cụ thể là tuyến đường vận tải Hồ Chí Minh có anh; trong miền quê đồng bằng Bắc Bộ ở hậu phương có thi sĩ nhí - thần đồng Trần Đăng Khoa. Họ như cặp bài trùng của nhân dân, dân tộc gieo những vần thơ làm thành khối kết gắn liên hoàn, tạo nên sức mạnh tinh thần lớn lao cho cả hậu phương và tiền tuyến, kết thành một sức mạnh thống nhất, to lớn góp phần làm nên chiến thắng cuối cùng của toàn dân tộc.
Chính ở nơi đầu sóng ngọn gió, nơi bom đạn ác liệt rình rập từng giây, từng phút, dễ dàng cướp đi mạng sống của người lính, thơ Phạm Tiến Duật khi thì bừng cháy như ngọn đuốc, khi lại êm chảy như dòng nước mát, an ủi mọi tâm hồn người lính, hun đúc thêm ý chí, lòng dũng cảm, tình đồng đội...giúp tụi tôi sống và chiến đấu tới ngày thống nhất đất nước...
Phạm Tiến Duật xứng đáng được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, như trước đây anh từng được truy tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Chỉ có điều là nhiều lúc tôi cứ tự hỏi: Ở nơi nào đó từng gắn bó với Trường Sơn, sao chưa có một đường phố mang tên anh? Quảng Bình, Vinh hay Hà Nội, nơi anh đi ra chiến trường từ trường Đại học Sư phạm? Nên có một con đường mang tên Phạm Tiến Duật!
Với cá nhân tôi, từ các bài thơ đọc ở tạp chí Văn nghệ Quân đội của anh, tới buổi sơ ngộ đầu tiên nói trên, cho tận tới khi thương khóc anh khi anh vào cõi thiên thu, Phạm Tiến Duật mãi mãi là người anh đầy thương cảm...
Nước Đức, tháng 5/2012