Nhớ Quang Vĩnh Khương, "một giấc mơ buồn"

Năm 1991, tôi tốt nghiệp đại học, từ Đà Nẵng về quê trình làng tập thơ “Cổ tích tình yêu”, cùng lúc Quang Vĩnh Khương mang từ Sài Gòn về tập “Tạ ơn nỗi buồn”. Hai đứa cùng lứa, cùng in thơ đầu tay, cùng được tổ chức ra mắt chung, rồi sau đó là… rất nhiều sự “cùng” nữa.

Từ “Tạ ơn nỗi buồn” và “Hai mảnh yêu thương”...

“Tạ ơn nỗi buồn” là tập thơ do bạn bè góp tiền cho Khương in, có lời tựa là bài thơ của nhà thơ Ý Nhi với những câu dự báo về một tài năng đang phải quăng quật, ngoi ngóp giữa đời: “Trong lúc người ta chen nhau/ trước thi đàn/ anh còn phải làm phu xe/ còn phải đi bốc vác/ còn phải đứng chợ trời/ mua những thứ đắt kinh người/ và mất đi những gì không thể biết...”.

chân dung qvk th-i tr-.jpg -1
Nhà thơ Quang Vĩnh Khương.

Ngay ở tập đầu, đã thấy quyết liệt và đam mê, trần trụi và mỏng mảnh trong tâm hồn Khương. Bài thơ dài “Đối khúc mùa thu” là một định sẵn cho thơ Khương, đời Khương, và cả những duyên tình của Khương sau này: “Tôi là chiếc xe ngựa cà tàng cực nhọc lao trong đêm/ chở cỏ và gió và cỗ quan tài chưa bỏ xác/ rung chuông leng keng điệu nhạc gọi hồn/ đường đến cõi người xa thẳm/ tôi đi/ tôi đi/ mong một mái nhà bình yên quầng lửa ấm”…

“Chiếc xe ngựa cà tàng” ấy đã cực nhọc kéo Khương đi từ mối tình này đến mối tình khác. Khi Quy Nhơn, khi Sài Gòn, Đà Nẵng, những nơi chốn cưu mang Khương. Cũng quyết liệt và nghiệt ngã như thơ Khương, đời Khương: “Hoa hồng giờ tan nát mùi hương/ hư ảo rụng/ cánh bầm như máu ứa/ tôi yêu em/ trái tim thành ngọn lửa/ rừng rực đau buồn/ rừng rực chờ mong” (Đóa hồng trong mưa).

Những ngày mới ra trường, tôi và Khương cùng tá túc trên căn gác nhỏ trong nhà của anh tôi ở con hẻm đường Hai Bà Trưng, Quy Nhơn. Khương đưa tôi đi giới thiệu với nhiều người, từ lãnh đạo sở, ngành, đến văn nghệ sĩ, bạn bè cũ, mới. Nơi nào Khương cũng tự nhiên, thân tình, thắm thiết. Có nhiều thông tin về Khương, cả chê lẫn khen, nhưng thơ Khương, chất hào hoa của Khương thì không ai chê cả.

Nhà thơ Quang Vĩnh Khương sinh 1964 tại Quảng Nam, lớn lên ở Bình Định, mất ngày 5/5/2001 âm lịch khi vừa 37 tuổi ở An Khê.

Quang Vĩnh Khương sống bằng nhiều nghề, đã xuất bản 3 tập thơ: “Tạ ơn nỗi buồn”, 1991; “Hai mảnh yêu thương” - in chung với Mai Thìn, 1992; “Tự bạch của đàn ông”, 1993.

Năm 2014, bạn bè và gia đình đã cho xuất bản tập thơ di cảo “Trăm năm một giấc mơ buồn”. Anh đã được trao giải nhất thơ Tạp chí Văn nghệ Gia Lai - Kon Tum 1989-1990; giải nhất kịch ngắn - trại sáng tác kịch ngắn Nghĩa Bình 1985; tặng thưởng thơ Báo Tiền Phong 1994.

Nhà thơ Lệ Thu (Chủ tịch Hội VHNT Bình Định thời đó) từng rất giận Khương, nhưng Tết 1992, Khương chở tôi đến thăm, nghe chúng tôi vất vả, có bữa chia nhau một ổ bánh mỳ, bà lì xì mỗi đứa trăm nghìn (bằng tháng lương hợp đồng của tôi). Hôm ấy, bà còn nhận lời viết tựa cho tập thơ “Hai mảnh yêu thương”. Tập in chung này, mỗi đứa 15 bài, đầy những buồn vui trăn trở, những cuộc tình, những xúc cảm xa xăm và tươi mới.

Cũng Tết năm ấy, Khương về nhà tôi ở làng Vĩnh Phú đón giao thừa, mang đôi giày mới do nhà viết kịch Văn Trọng Hùng, hồi ấy là Phó giám đốc Sở Văn hóa tặng, còn áo thì hình như của một bạn gái may cho. Có tiền, Khương bày đủ thứ, rủ nhà thơ Hồ Thế Hà và bạn bè (đang từ Huế về Phù Cát ăn Tết) vô chơi.

Khương là người đa tình, hào hoa, đi đâu cũng có bạn. Nữ thì say đến “đổ điếu”, nam thì dốc gan dốc ruột, dẫu từng bị Khương cho “leo cây” và tai tiếng. Không có tiền, Khương vẫn bày cuộc nhậu, mời bạn bè tới, cuối buổi bảo “tao không có tiền, nhưng nhớ tụi mày quá, đứa nào có thì thanh toán giúp tao”. Vậy là lại hi hi uống tiếp.

Có lần Khương chở tôi vô nghĩa trang Quy Nhơn, thăm mộ người yêu vừa mới qua đời. Đang nói cười vui vẻ về một cuộc tình, nhưng khi thắp nhang, rót rượu lên mộ, Khương khóc rưng rức, nước mắt giàn giụa. Tối ấy, trên gác nhỏ, Khương viết bài “Thơ tặng người dưới mộ” với những câu xé lòng: “Một đời chớp bể mưa nguồn/ Thuyền ta trơ lại cánh buồm đơn côi/ Thưa em này mắt này môi/ Này râu tóc rối một thời cuồng mê/ Bến xưa cát lấp đường về/ Dại điên ta bước ngô nghê giữa đời/ Bây giờ bình vỡ chén rơi/ Em về đất lạnh bỏ tôi một mình/ Chiều hoang qua cõi nhân tình/ Còn mang đau xé bóng hình của em”.

Rất nhiều những người con gái làm cho Khương khóc cười như thế. Và cũng vì thế, Khương có: “Trương Chi”, “Giấc mơ đau”, “Sẽ thưa em lời nào dịu ngọt”, “Điều vô lý có thật”, “Lục bát gửi người xưa”, “Căn dặn”, “Mười năm”, “Mảnh vàng sót lại”, “Quà tặng”... trong “Hai mảnh yêu thương”. Bài thơ “Trương Chi” sau này được chọn in trong “Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam” cũng được viết trong những “cơn” như thế:

Đêm xưa có một gã khờ
Uống trăng rồi khóc trang thơ đời mình
Uống thơ rồi khóc cuộc tình
Uống tình rồi khóc một mình dưới trăng.

… Đến “Tự bạch của đàn ông”

15 bài thơ trong “Hai mảnh yêu thương” và nguyên tập “Tự bạch của đàn ông” in sau đó một năm là những kỷ niệm vật vã của Khương với những người con gái mà Khương yêu. Có người chỉ thoảng qua. Có người Khương nhờ bạn bè thăm nhà, dạm lễ, thậm chí đã in thiệp cưới, đề tên nhà thơ L.T chủ hôn. Cũng có người cưới rồi, ở với nhau ấm bếp, ấm chăn, mọc mầm, mọc rễ rồi... Nhưng tất cả đều trôi qua, trôi như dề lục bình không bến đỗ.

4 t-p tho c-a quang vinh khuong.jpg -0
Những tập thơ của nhà thơ Quang Vĩnh Khương.

Bi kịch nhất là mối tình với vợ đầu của Khương, một bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa Bình Định, nơi vợ tôi cùng công tác. Hồi ấy, vợ chồng Khương ở trọ gần nhà tôi, nên hay qua lại. Có lần Khương đến vạch áo, bệu bạo khóc, bảo bị vợ cắn đến rách da. Rất nhiều những lần như thế, rồi hai người chia tay. Khương cũng bặt tin, cho đến khi tập thơ “Tự bạch của đàn ông” được xuất bản với đề từ: “Những hờn ghen cứ thực lòng nguyền rủa/ Gã đàn ông đểu cáng ở trong anh”. Tập thơ có 21 bài, là những giằng xé, đau khổ của gã đàn ông mất tình vì những lỗi lầm của mình.

Bài thơ “Viết cho hạt máu con” (trước đó in ở "Tạ ơn nỗi buồn") với lời đề từ: “Khi con tượng hình thành hạt máu/ lời đau buồn cha mẹ hát ru con” là một “tự bạch” xúc động và thật nhất của Khương: “mùa thu đã xa/ mắt mẹ con vẫn buồn/ bởi tình yêu của cha không làm nguôi cơn khát/ bởi đau đáu nổi chìm phận bạc/ suốt đời mẹ con/ không đi hết một ngục tù/ cõi ngục tù trầm luân mang tên hạnh phúc”... Còn rất nhiều những “tự bạch” như thế trong tập này, như: “Sẽ thưa em lời nào dịu ngọt”, “Dạ khúc”, “Không đề”, “Em”, “Hoang tưởng I”, “Dây khổ qua hạnh phúc”, “Tái bút”…

Có những bài “thất tình” trở thành “mẫu số chung” và được khá đông bạn đọc trẻ yêu thích. Tiêu biểu là bài thơ “Tình ca bảy chú lùn” sau đó được Báo Tiền Phong tặng thưởng:

Nàng Bạch Tuyết đã đi cùng Hoàng Tử
ngẩn ngơ tôi với bảy chú lùn
quả táo độc dự phần đêm tàn tiệc
đem chia đều cho tám nỗi cô đơn

Sau những “tự bạch”, những vật vã, đau đớn tưởng không vượt qua ấy, duyên phận đã đưa Khương đến với đất An Khê, neo Khương lại bằng đứa con trai thật kháu khỉnh và người vợ hết mực yêu và hiểu Khương. Khương đã nỗ lực xây tổ ấm của mình bằng đủ nghề, khắp trong Nam ngoài Bắc. Bạn bè, gia đình mừng cho Khương, tưởng như thế là ấm yên, bền vững. Nhưng không ngờ cuộc đời Khương, số phận Khương lại là “giấc mơ đau”, “giấc mơ buồn”, như tên những dòng thơ Khương đã viết…

“Trăm năm một giấc mơ buồn”

“Giấc mơ buồn” ấy cuốn Khương đi vào ngày 5/5/2001. Bạn bè cả nước xót thương, vì quá bất ngờ, vì Khương lúc ấy mới 37 tuổi. Sau đó mấy ngày, một nhà thơ nữ ở Báo Văn nghệ trẻ điện vào, nhờ tôi gửi chùm thơ Quang Vĩnh Khương kèm bài giới thiệu. Tôi viết ngay trong đêm, tuần sau báo in kèm chân dung Khương thật đẹp. Tôi cũng gửi chùm thơ Khương và cái sapo cho Tạp chí Văn nghệ Bình Định, nhưng không được in, vì Khương… không phải là hội viên của hội. Tuy nhiên, chùm thơ và cái sapo này sau đó đã được Báo Bình Định in trang trọng ở trang giữa.

Như có sự chuẩn bị, trước ngày mất, Khương thuê ôtô chở cả nhà về Quy Nhơn, thăm tất cả bạn bè, như để tạm biệt. Giữa sáng hôm sau thì nhận tin dữ, chúng tôi lên thăm Khương. Thấy Khương nằm như ngủ, thanh thản như vừa “cày” xong một bài viết tâm đắc. Cô giáo Thu Nguyệt, vợ Khương bảo tối qua Khương có đi nhậu, nhưng về ngủ sớm, sáng ra thì không chịu dậy... Năm Khương mất, cháu Hai Cù Nèo, tên lúc nhỏ của con trai Khương mới chập chững, giờ đã là chàng trai tốt nghiệp đại học đã vài năm...

Đã 25 năm Khương đi xa với “giấc mơ buồn”, trĩu “Trên vai là cái gánh tình/ Trong tim là nỗi một mình bơ vơ!”. “Chiếc xe ngựa cà tàng” ấy, đã chở Khương đi, biền biệt trên con đường tiền định.

Mai Thìn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.