“Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa chắc nó hay…”

Trong tất cả các cuộc tranh luận nghệ thuật đã diễn ra năm 1949 ở làng văn nghệ kháng chiến, có một cuộc tranh luận, theo thiển ý của tôi, vẫn mang tính thời sự cho tới tận hôm nay. Đó là cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu đã nói trong lời mở đầu cuộc tranh luận này, đó “không phải nói đến vấn đề thơ không vần, cũng không phải chuyện những câu thơ dài, ngắn tự do…”. Theo Xuân Diệu, hai đặc điểm ấy trong thơ Nguyễn Đình Thi chỉ là “chuyện phụ”…

Xuân Diệu cũng trong lời mở đầu cuộc tranh luận đã nhắc lại cái ý hiển nhiên đúng và rất không mới là, trong nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng, “hình thức và nội dung là một”. Với Xuân Diệu và chắc là với cả nhiều người khác nữa, “mỗi câu thơ là một ít xác thơ đựng một ít hồn thơ”. Tuy nhiên, cách mà Xuân Diệu nhìn vào thơ Nguyễn Đình Thi, ở góc độ hôm nay mà soi xét, có thể thấy không hẳn là không bất cập…

Còn nói về thơ cần có vần hay không vần tựu trung vẫn có hai luồng ý kiến và khen hay chê thì cũng đều rất chân thành và thẳng thắn, không nhìn mặt nhau mà nói như ở một số thời khác. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, thơ là phải có vần. Cụ Ngô Tất Tố trước sau như một, cứ khăng khăng khẳng định: “Thơ là có vần, thơ không vần hãy cho nó một tên khác”. Thậm chí trong quá trình tranh luận, tác giả của Tắt đèn còn lớn tiếng: “Tôi đề nghị thơ không vần thì đừng gọi là thơ!”.

Tác giả Nhớ rừng Thế Lữ thoạt tiên đã đưa ra cái nhìn tương đối thỏa đáng và mềm mỏng về thơ Nguyễn Đình Thi: “Cuộc thí nghiệm của anh Thi là một cuộc thí nghiệm về thơ nói chung… Anh Thi có một hồn thơ mãnh liệt, mà không dùng những hình thức quen, là muốn tìm cái mới…”. Tuy nhiên, Thế Lữ cũng thẳng thắn thừa nhận rằng ông chưa cảm thấy thỏa mãn khi đi tìm hiểu cái hay của thơ Nguyễn Đình Thi. Và chính vì chưa thỏa mãn nên ông thậm chí còn nặng lời: “Thơ anh Thi nguy hiểm, và còn là một cái nguy cơ. Các nghệ sĩ hay bám vào hình ảnh mới lạ, miễn là nó long lanh để đưa tâm hồn mình vào đấy. Đó là cái thú “vicieux” (bệnh tật) của nghệ sĩ. Thơ anh Thi có tính cách quý phái, cao đạo...”. Thế Lữ cảm thấy lo lắng khi ông cho rằng Nguyễn Đình Thi đi “gieo rắc” lối thơ của mình trong làng thơ…

“Hoàng tử thơ tình” Xuân Diệu, thì ngay lời mở đầu tranh luận đã điềm nhiên khẳng định rằng giữa ông và Nguyễn Đình Thi có những “sự giằng co” về quan niệm thơ mà ông không ngại mang ra công khai hóa, dù cũng có những bài thơ của Nguyễn Đinh Thi khiến ông thích thú. Trong cách nhìn của Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi hay có những bài thơ mà ông cho rằng đã phạm phải lỗi “đầu Ngô mình Sở”, các đoạn trong tứ thơ không dính nhau… Và ông dẫn thí dụ: “Bài Đêm mít tinh ban đầu nói trên rừng Phan Lương có sao, rồi nói đến Hà Nội của chúng ta, rồi đến cờ sao kéo về, và câu kết: “Sao ơi, núi rừng ơi, nức nở”. Tôi thấy nó xa quá, không hiểu sao đang đêm mít tinh lại nói đến nhớ Hà Nội. Cái tứ chạy đi như thế, người ta khó theo…”.

Và Xuân Diệu cho rằng: Thơ anh Thi từng bộ phận thì hay, và có những câu rất hay. Những đoạn những câu hay ấy, chắp lại với nhau thì thành ra không hay. Như môi đẹp, mắt đẹp, mũi đẹp, mà không thành mặt đẹp, vì là môi, mắt, mũi của nhiều người… Xuân Diệu cũng nhất quán cho rằng: “Tôi công nhận, có thể có những bài thơ không vần, có những trường hợp thơ không vần hay nhưng phải đúng trường hợp. Tôi nhận thấy trong một bài thơ có vần, có thể có một vài đoạn không vần, có thể có một vài câu không vần nếu sự không vần ấy giúp cho bài thơ hay thêm lên… Nhưng đại đa số trường hợp, nên có vần là vì những cái ích lợi của nó…”.

Loại ý kiến thứ hai, thí dụ như của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thì lại nhìn nhận thơ không vần ở góc độ khác: “Giữa anh Thi và tôi có một sự đồng lõa, vì tôi cũng thích thơ không vần...”. Điều rất hay là khi phát biểu về thơ Nguyễn Đình Thi, tác giả vở kịch Vũ Như Tô cũng đã rất chân thành nhận xét về tính cách và tâm trạng của người đã làm nên ca khúc Diệt phát xít nổi tiếng: “Tôi luôn ngắm anh Thi, tôi thấy ở anh có một cái gì thật mâu thuẫn. Ở hội nghị, anh ngang tàng, ở nhà anh lại hết sức cô đơn. Lý luận sáng suốt, đại chúng, mà thơ thì rối rắm, u uất. Anh Thi nhiều khả năng, nhưng cái căn bản khiến cho người đọc thơ anh cảm thấy thơ già, nguyên nhân chính là anh xa lìa quần chúng. Anh vật lộn với anh nhiều, nhưng thơ anh chỉ phản ánh một phần nào tâm hồn của anh, chứ không nói tiếng nói của đại chúng. Thơ anh như hạt ngọc lung linh, chứ không phải dòng suối lôi cuốn người ta đi. Thơ anh bị ảnh hưởng của lời nhạc nhiều. Đó là yếu tố tạo nên một cái gì chưa vững. Nó là một tiếng nói bập bẹ, mâu thuẫn với anh. Anh Thi chỉ thành công khi anh không phải quay cuồng với chính mình, mà đi gần với đại chúng để phát biểu tiếng nói của đại chúng”…

“Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa chắc nó hay…” ảnh 1

Nguyễn Đình Thi (hàng đầu, thứ nhất từ trái sang) cùng các nhà văn, nhà thơ tại Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.

Nhạc sĩ lão thực Nguyễn Xuân Khoát lại đưa ra ý kiến khá anh minh, cứ tưởng không rõ ý mà lại rất rõ ý khen: “Đọc thơ anh Thi tôi lại nhớ đến một bài thơ của người Việt rất cổ. Đúng hơn, một bài hát. Sau khi biết bài ấy, tôi cho phái siêu thực gần đây không mới gì lắm. Bài ấy, người ta nói như một bài hát của một ông hoàng trong cung, cũng là mình Sở đầu Ngô. Chính các cụ ngày xưa cũng không thích. Đại khái: Đàn ai một tiếng dương tranh/ Hơi dương đầm ấm/ Lá ngô đồng rung/ Một áng hơi sương…”.

Sau khi nghe tất cả những lời khen và chê thơ mình, Nguyễn Đình Thi đã phát biểu như sau: “Tôi đồng ý với phần lớn những lời phê bình. Tôi hay lý luận. Cái tìm tòi của tôi cũng hay lý luận. Nhưng nói đến thơ, đó là một cái thiết tha nhất của tôi, và cũng là cái tìm tòi rất khổ của tôi (tuy nó có cái vui của nó)...

Anh Xuân Diệu nói là thơ của tôi già. Gần đúng. Vì thơ của tôi không phải là những bài thơ vui. Đó là những bài thơ đau đớn. Lúc tôi làm nó, tôi đã nghĩ rằng: Trong lúc này, có nên đưa ra cái đau đớn đó không? Có. Vì cuộc kháng chiến của ta có bao nhiêu cái đau đớn, những đau đớn chính đáng; miễn là cái đau thương ấy không phải là đau thương đi xuống. Anh Xuân Diệu nói nó gò bó, cũng đúng. Rất đau thương mà không nói, đó là thái độ nội dung của tôi. Khi tôi nói cái đau thương của tôi ra, nó ẩn ở một chỗ rất kín. (Ví dụ trong bài Không nói: Môi em, đôi mắt còn ôm đây). Nhưng nội dung ấy khách quan mà xét, thì nó không đúng với cuộc kháng chiến bây giờ, cái đau đớn của kháng chiến không giống cái đau đớn trong thơ tôi. Ở nhiều chỗ kháng chiến, còn đau đớn hơn nhiều, nhưng cái đau đớn không như thế. Một số thanh niên như tôi, nhiều khi không phải là văn nghệ sĩ cũng thích thơ tôi. Một số bạn khác rất mê thơ tôi. Nhưng nhìn kỹ lại các anh ấy phải nhận rằng họ cũng ở một tình trạng na ná như tôi.

Sau này tôi cố gắng sửa chữa. Những lời phê bình làm tôi suy nghĩ. Tôi suy nghĩ và tôi tự bảo tôi phải đổi. Vì cái nội dung đã u uất rồi, cho nên khi nó thể hiện ra ngoài, nó cũng có vẻ khắc khổ, gò bó. Trong khi tôi đi tìm một hình thức tự do, thì cái nội dung của tôi lại gò tôi lại. Tôi muốn có cái mộc mạc đơn sơ, thì trái lại, nó lại cầu kỳ...”.

Nhà thơ Tố Hữu khi kết luận cuộc tranh luận, cũng đã tâm sự rất chân thành: “Làm thơ không phải do trí tuệ muốn, mà do sự sống bản thân của mình. Có những lúc tôi yêu thơ anh Thi, nhưng cũng có những lúc tôi thù ghét nó. Những lúc mà tôi buồn bực, nhọc mệt, tôi thích đọc thơ anh Thi… Tôi đọc những bài Sáng mát trong… Thơ là một điệu hồn, tìm đến những hồn đồng điệu. Những lúc tôi cần làm việc, tôi thấy ghét thơ anh Thi ghê lắm vì tôi thù ghét cái cá nhân nó lại trở về với tôi. Rồi tôi lại dè chừng với tôi. Nhiều khi thấy thơ hay mà chưa chắc nó hay…”.

Chân thành như thế nên không ai giận ai khi cùng nghe những “trung ngôn nghịch nhĩ”. Âu đó cũng là một thái độ hay mà văn nghệ sĩ ở các thế hệ khác cũng nên gìn giữ và phát triển

Ngô Công

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?