Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát: Người luôn chọn việc khó

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát được coi là người "anh cả" của giới nhạc sĩ Việt Nam. Ông sinh ngày 11 tháng 2 năm 1910.

Vốn có năng khiếu âm nhạc, năm 1927, ông là một trong mười người được tuyển vào học ở Viễn Đông âm nhạc viện do Pháp mở tại Hà Nội. Vào thời buổi ấy, đời sống xã hội đang có chiều hướng Âu hóa với phong trào tân học. Ăn cơm Tây, ở nhà Tây, nói tiếng Tây, nghe nhạc Tây. Mọi thứ Tây là nhất rồi! Kể ra với các vốn nhạc Tây ở một năng khiếu âm nhạc như Nguyễn Xuân Khoát, nếu ông chịu lựa theo thời thế, hẳn ông cũng sẽ có một "tiền đồ" sáng chói, dù là ông chỉ tự bằng lòng kiếm sống bằng cái nghề chơi đàn ở các tiệm nhảy của Tây. Ông chơi contrebasse có nghề. Băng nhạc của ông có cả các tay đàn người Nga, Pháp, Philippin. Cái tiệm nhảy Taverne royale ở ngay ngã tư Bờ Hồ, trước mặt là cửa hàng bách hóa đồ sộ bậc nhất của Hà Nội là nơi tụ tập đủ các hạng ông lớn bà lớn Tây thời đó.

Nhưng ông đi vào âm nhạc đâu có phải để lọt vào đó hành nghề. Nguyễn Xuân Khoát đã có lần tự bạch về cái sự nặng tình với tiếng tơ đồng từ hồi còn để chỏm như sau: "Tôi yêu nhạc bắt đầu bằng câu chuyện yêu chàng Thạch Sanh. Tiếng đàn Thạch Sanh dưới gốc đa, tiếng đàn đuổi được mãng xà, cứu được nàng công chúa. Đàn kêu tích tịch tình tang, lọt vào tai ông vua phong kiến mà khiến cho ông ta cũng sáng mắt ra, hiểu thấu được cái oan của Thạch Sanh. Như vậy chính là anh chàng Thạch Sanh chứ không phải ai khác đã đưa tôi đến thế giới âm thanh. Tôi cũng muốn tích tịch tình tang, cứu lấy một nàng công chúa diễm lệ nào đó của lòng mình". Ông học nhạc Tây bởi vì ông mê cái đẹp, cái tinh hoa của nó, chứ đâu phải để dấn thân vào việc "tích tịch tình tang" ở tiệm nhảy, hộp đêm.

Vào thời buổi, cái gì của Tây cũng đều là nhất, Nguyễn Xuân Khoát lao vào công việc nghiên cứu sưu tầm: nghiên cứu chèo, ca trù và các làn điệu dân ca. Ông mời hẳn một ông thầy chèo để ghi chép các làn điệu, ghi đi ghi lại những luyến láy trong giọng hát chèo và trong tiếng đàn của các làn điệu chèo của nhiều nghệ nhân khác nhau.

Đi sâu vào ca nhạc cổ truyền, ông rút ra được nhiều vấn đề có tính khái quát: Nhạc Việt Nam rất giàu hình tượng. Về thể loại, âm nhạc Việt Nam có những vẻ đẹp của riêng nó: Chèo chất phác, ca trù thanh cao, dân ca thì hồn nhiên ý nhị. Nó vui mà không ồn ào, sặc sỡ, bi mà không đát, vừa kín đáo vừa cởi mở; vừa mộc mạc lại vừa duyên dáng.

Khởi đầu sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Xuân Khoát viết bài "Hồn xuân - Bình minh" phổ thơ Thế Lữ để nói lên lòng mong mỏi của ông trước sự biến động của đất nước. Đi vào âm nhạc cổ truyền, rút ra được những bài học của nó, ông phổ nhạc ba bài ca dao: "Con cò", "Con voi", "Thằng Bờm". Khỏi phải nói ý nghĩa nội dung của tính triết lý các bài đó, chỉ nói về phần tư duy sáng tạo cũng đã thấy ông ngoặt sang một lối rẽ khác, giữa lúc dòng nhạc nhẹ thời thượng đang dâng lên với phong trào cải cách âm nhạc (còn gọi là phong trào tân nhạc).

Trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Xuân Khoát bỏ nghề "lê lết" ở các tiệm nhảy để gia nhập Đoàn kịch Anh Vũ với Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ, Bùi Công Kỳ, Văn Chung… Trên đường đi vào miền Trung biểu diễn thì Cách mạng bùng nổ. Ông viết bài "Uất hận" phổ nhạc một bài thơ ký tên Bồ Tát (đăng trên một tờ báo tường - mãi cho đến nay ông cũng chưa biết tác giả là ai!). Bài hát mang tính tự sự với nhiều suy tư.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nguyễn Xuân Khoát nhập vào Đoàn kịch Tháng Tám với nhà thơ Trần Huyền Trân. Rời Thủ đô Hà Nội, lần lượt kẻ trước người sau kéo lên Việt Bắc. Ông đưa cả gia đình cùng đi theo cuộc kháng chiến trường kỳ. Trên đường đi ông gặp một trận càn của giặc Pháp. Vượt sông Hồng cùng với đồng bào tản cư đi qua các làng đạo, tiếng oán thán của người dân đeo đuổi ông suốt cuộc hành trình: "Giặc Pháp tàn ác quá đi anh ơi! Chúng đặt súng trên gác chuông bắn vào làng, vào dân đang chạy trốn".

Nguyễn Xuân Khoát đã bao lần đi lễ nhà thờ. Bao lần nghe tiếng chuông đổ hồi. Tiếng chuông nối duyên đôi lứa uyên ương, nhân từ vui đón rửa tội tổ tông cho trẻ sơ sinh... Lên bến Việt Trì, may mắn gặp nhạc sĩ Trần Dư, một cây violon, ông được nhạc sĩ Trần Dư đưa về nhà ngủ. Hôm sau ông tìm đến nhà họa sĩ Tô Ngọc Vân. Đêm đó, không kịp nghỉ ngơi, ông đặt nét nhạc đầu tiên cho bài "Tiếng chuông nhà thờ": Thánh đường tôn nghiêm/ Giặc sàm tới chiếm/ Gác cao tòa thánh/ Đặt súng thay chuông/ Hung ác bạo cường/ Tàn sát dân lành...”.

Những tiếng chuông đổ hồi trong lòng ông. Lời ca đã có nhiều gợi ý cho người thưởng thức, nhưng tư duy khí nhạc rất cao thể hiện trong tác phẩm đã làm cho nguồn cảm xúc được nhân lên phong phú gấp nhiều lần, nhất là khi được nghe bài hát với đầy đủ phần đệm piano. Ông đã sử dụng hòa thanh theo cách riêng, hòa thanh của Nguyễn Xuân Khoát, để mô phỏng tiếng chuông nhà thờ.

Một tuần lễ sau khi đến ở nhà của họa sĩ Tô Ngọc Vân, bài "Tiếng chuông nhà thờ" được hoàn thành. Các bạn văn nghệ sĩ có mặt ở cái xóm văn hóa kháng chiến, gồm Tạ Mỹ Duật, Thế Lữ, Đồ Phồn, Dương Bích Liên, Nguyễn Khang... xúm lại nghe ông trình bày. Chưa kịp vui với tác phẩm thì lệnh chuẩn bị đối phó với giặc Pháp từ Nghĩa Lộ có thể đánh ra đến với ông đột ngột và cũng đột ngột là cái tin Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chấp thuận cho Nguyễn Xuân Khoát và Mai Văn Hiến đầu quân.

Chưa kịp ăn cái Tết kháng chiến đầu tiên với vợ con và bạn bè, Nguyễn Xuân Khoát lại lên đường đi theo bộ đội chiến đấu. Ít lâu sau, các bài "Chiều Việt Bắc", "Hát mừng bộ đội chiến thắng", "Đoàn quân cứu thương" lần lượt đến với đồng bào, chiến sĩ.

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, trở về Thủ đô Hà Nội, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Làm lãnh đạo, song ông vẫn luôn xác định mình là con người của sáng tạo. Ông viết nhạc cảnh "Vượt Sông Cái", viết nhạc cho vở kịch "Lu Ba", nhạc cho phim "Trở lại Điện Biên", "Đôi bạn"... và còn phải kể tổ khúc "Ông Gióng", "Sơn Tinh, Thủy Tinh". Trong tổ khúc "Ông Gióng", ông dùng nguyên xi bộ trống cơm, tiu, bộc, sênh tiền để tạo không khí đám rước. Ở cái tuổi lên lão rồi mà ông vẫn còng lưng trên chiếc xe đạp tòng tọc, chung lưng, chung sức với các đoàn văn công ca múa nhạc.

Khám phá, đúc kết, thể nghiệm, không lúc nào ông tự buông tha mình khỏi những dằn vặt, trăn trở vì sự nghiệp âm nhạc dân tộc trong những điều kiện phương tiện đơn sơ. Khi gặp nhóm Phù Đổng, ông lao vào với nhóm nhạc cụ gõ đó, háo hức đóng góp sức lực trí tuệ của mình cho lớp trẻ. Ông gặp nhóm Phù Đổng hay nhóm Phù Đổng gặp ông, một người thầy, một người bạn?

Đêm Hà Nội mùa Đông, mưa phùn và gió bấc. Cái lạnh ẩm ướt không làm cho ông bớt hăng say với công việc. Chuông đồng hồ nhà ai đã điểm mười giờ. Khoác vào mình chiếc áo gió, đội chiếc mũ bông che tai, với đôi giày cao cổ, chiếc gậy trong tay, ông lò dò đến với các bạn trẻ của ông, đập cửa dựng họ dậy. "Nào! Các bạn trẻ, ta làm việc đôi chút để cho nóng người. Tớ nghĩ ra được cái này. Thử xem sao!". Thế là thầy và trò cùng lao vào cuộc. Thế là "Tiếng pháo giao thừa" viết riêng cho bộ gõ ra đời. Rồi bản hòa tấu "Mùa hè". Rồi lần lượt cả tổ khúc bốn mùa: "Xuân - Hạ - Thu - Đông" được hoàn thành. Tiếp đó là hòa tấu "Trúc - Cúc - Tùng - Mai", bộ tranh tứ bình được diễn tả bằng âm thanh nhạc cụ gõ. Chỉ có bộ gõ - nhạc cụ gõ thôi? Chỉ nghe có tiếng trống, mõ, chuông, cồng, sênh... Nào đâu là giai điệu?

Theo Nguyễn Xuân Khoát, đây là chuyện về một thứ giai điệu "siêu giai điệu", một thứ hòa thanh "siêu hòa thanh". Giai điệu bằng màu sắc của âm thanh, màu âm của trống, của chuông, mõ, sênh... vô cùng hấp dẫn vang lên lấp lánh diễn tả đủ các cung bậc tình cảm của con người: Hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục. Sao lại nói không có giai điệu?

Với bản hòa tấu "Mùa hè" cũng nên nhắc lại câu chuyện về một nhạc cụ dân gian độc đáo gọi là sênh sứa thường được sử dụng trong nghệ thuật nói vè, hát bài chòi, hát sẩm ở miền Trung. Bộ sênh sứa gồm hai mảnh còn gọi là cặp kè, dáng hình như hột xoài, hai đầu vạt nhọn, đập vào nhau. Sử dụng trong lòng bàn tay, tiếng sênh rung lên nghe như ngàn vạn côn trùng cùng lúc cất tiếng rỉ rả. Từ sau ngày nổ súng chống Pháp, không biết ai còn giữ cặp sênh, ai còn biết chơi cặp kè? Mấy thế hệ đã đi qua... chẳng lẽ bị thất truyền?

Nhân một chuyến đi họp văn nghệ ở miền Trung, ông hỏi thăm thì có người mách cho biết người sành chơi bộ sênh đó hiện đang ở Hà Nội. Đó là ông Kỳ giữ cửa Nhà hát Lớn thành phố. Ôi! Chuyện đời kỳ lạ thật. Một cuộc săn lùng kéo dài suốt nửa thế kỷ, nào ai hay nằm ngay trước mắt. Nhưng khi nhóm Phù Đổng được ông Khoát bắn tin đến gặp chủ nhân để xin truyền lại cho bộ sênh quí báu đó được cất kỹ trên bàn thờ gia tiên thì ông Kỳ nhất định không trao cho bất kỳ ai nếu không phải đích thân ông Nguyễn Xuân Khoát.

Nhóm nhạc gõ Phù Đổng đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài. Họ thật sự hãnh diện với những tiết mục của mình. Họ biết ơn nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và học tập được bao điều ở ông. Bình sinh, Nguyễn Xuân Khoát không muốn nói nhiều về mình. Gia sản cả cuộc đời ông chỉ là một căn phòng nhỏ hẹp đơn sơ ở khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Hà Nội, với một chiếc giường cá nhân, một chiếc bàn nhỏ ọp ẹp và cây đàn cũ, cùng những bản thảo, những trang giấy đang viết dở dang...

Phan Thanh Nam

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.