Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc: Người đưa "Cô lái đò" từ thơ qua nhạc

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc quê ở xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ông sinh năm 1919 và qua đời năm 2001 - cách đây vừa chẵn 10 năm. Nói đến Nguyễn Đình Phúc, nhiều người nhớ ngay tới ca khúc "Cô lái đò" ông phổ thơ Nguyễn Bính hồi trước Cách mạng Tháng Tám - một trong những ca khúc tiểu biểu của giai đoạn mở đầu nền tân nhạc Việt Nam...

Sự mến chuộng của công chúng đối với "Cô lái đò" đã đem lại danh vọng và tiền tài cho một số ca sĩ. Chính tài tử Ngọc Bảo từng có lần thổ lộ với tác giả của nhạc phẩm: "Nhiều năm lưu lạc và kiếm sống bằng ca hát ở Pháp, bài hát "Cô lái đò" đã làm giàu cho tôi". Ngày 13/12/2009, trong chương trình âm nhạc có tên gọi "Bóng ai qua thềm" được tổ chức tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội, Tùng Dương - một ca sĩ trẻ được coi là giọng ca "thời thượng" hiện nay cũng đã chọn "Cô lái đò" để thể hiện chất giọng cũng như cảm xúc của mình...

Nhiều người đã biết, "Cô lái đò" là một trong số những bài thơ thường được nhắc tới của thi sĩ Nguyễn Bính. Trong tập thơ "Lỡ bước sang ngang" nổi tiếng của Nguyễn Bính, đây cũng là một trong những bài thơ ấn tượng. "Lỡ bước sang ngang" được xuất bản lần đầu năm 1940, song phải đến năm 1942, chàng trai trẻ Nguyễn Đình Phúc mới có được tập thơ này và chỉ mới tiếp xúc với "Cô lái đò", ông đã "kết" ngay. Bà Trần Thị Bảo, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc từng có lần kể lại: Ông Phúc rất say mê bài thơ "Cô lái đò", trong khi nhạc sĩ Phạm Duy thì lại mê bài thơ "Cô hái mơ" (cũng của Nguyễn Bính). Thế là một lần, vào chiều thứ Bảy, hai ông rủ nhau đi dạo quanh Hồ Hoàn Kiếm và giao ước với nhau, khi về nhà, ai nấy phải sáng tác được một ca khúc. Kết quả là khán thính giả yêu âm nhạc Việt Nam từ đó được biết đến hai ca khúc hay, hiện vẫn được xem như những cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền tân nhạc Việt Nam.

Hình tượng cô lái đò trong tranh gốm Bát Tràng.
Hình tượng cô lái đò trong tranh gốm Bát Tràng.

Nhân đây cũng cần nói thêm: Nguyễn Đình Phúc thuộc típ nghệ sĩ đa tài. Ngoài sáng tác nhạc, ông còn làm thơ, vẽ tranh, viết sách nghiên cứu dân gian và cả sách hướng dẫn xem… vân tay, đoán số. Ông khởi đầu sự nghiệp bằng loại hình hội họa chứ không phải âm nhạc. Ông từng theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau vì chống lại thầy giáo người Pháp xúc phạm học sinh An Nam mà bị đuổi khỏi trường. Năm 1943, với bức tranh "Chú bé thổi sáo", Nguyễn Đình Phúc giành được giải nhất tại cuộc triển lãm tranh Đông Dương tổ chức ở Hà Nội. Phần thưởng đủ để ông làm một chuyến du lịch xuyên Việt nhiều ngày với tấm vé tàu hỏa hạng sang.

Nguyễn Đình Phúc tiếp thu những kiến thức âm nhạc đầu tiên từ một nghệ sĩ già người Nga lưu vong tên gọi Sibirev. Ông Sibirev chơi đàn violoncelle ở một phòng trà trên phố Tràng Tiền. Từ đó, theo bước Siberev, Nguyễn Đình Phúc trở thành một nghệ sĩ tự do kiếm sống bằng nghề kéo violoncelle tại một số phòng trà ở khu vực trung tâm Hà Nội.

Mặc dù "Cô lái đò" là ca khúc đầu tay của Nguyễn Đình Phúc, song nó đã thể hiện một sự già dặn, chững chạc trong thủ pháp. Thơ Nguyễn Bính vốn dĩ có duyên với âm nhạc. Theo ghi nhận tạm thời của một độc giả thì đến nay, đã có một số thi phẩm của Nguyễn Bính được phổ nhạc: Bài "Tiểu đoàn 307" được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc; bài "Người hàng xóm" được Anh Bằng phổ nhạc (đổi tên là "Bướm trắng"); bài "Cô hái mơ" được Phạm Duy phổ nhạc; bài "Lỡ bước sang ngang" được Song Ngọc phổ nhạc; bài "Nhạc xuân" được Đức Quỳnh phổ nhạc; bài "Thời trước" được Văn Phụng phổ nhạc (đổi tên là "Trăng sáng vườn chè"); bài "Ghen" được Trọng Khương phổ nhạc; bài "Gái xuân" được Từ Vũ phổ nhạc…

Nếu nói về độ phổ biến thì so với ca khúc "Tiểu đoàn 307" của Nguyễn Hữu Trí, cũng khó nói ca khúc "Cô lái đò" của Nguyễn Đình Phúc được khán giả biết đến nhiều hơn, được hát nhiều hơn. Tuy nhiên, ý kiến sau đây của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (được dẫn lại trong một bài viết của nhà văn Vũ Bằng) cũng là một "kênh" đáng để chúng ta tham khảo: "Trong tất cả các bài thơ được phổ nhạc từ trước tới nay, kể từ bài "Thằng Bờm" của Nguyễn Xuân Khoát cho đến các bài mới như "Sơn Tinh, Thủy Tinh", thơ Hồ Dzếnh, kể cả thơ phổ nhạc của Phạm Duy, theo ý tôi, không có bài nào thành công vẻ vang như bài "Cô lái đò" của Nguyễn Bính do nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc".

Ở đây, Nguyễn Hữu Ba cắt nghĩa: "Trong suốt bản nhạc, thính giả không một lúc nào cảm giác thấy bản nhạc bị gò bó trong một bài thơ, mà chính bài thơ cũng không hề bị nhạc hãm hiếp làm cho mất tính cách nguyên thủy và trong trắng của nó. Nghe thì việc đó tầm thường, nhưng công việc tạo tác một bản nhạc qua một bài thơ mà làm cách nào cho thơ và nhạc hỗ tương nhau, thơ không bị nhạc hãm hiếp, thực quả là một công việc hết sức khó khăn, hết sức vất vả, nếu nhạc sĩ không yêu bài thơ triệt để, không thông suốt tinh thần của nhà thơ, không cảm thông với nhà thơ như hình với bóng thì không thể nào làm nổi".

Bài thơ "Cô lái đò" được Nguyễn Bính viết theo thể thất ngôn, gồm cả thảy 4 khổ, 16 câu. Nguyễn Đình Phúc gần như trung thành với nguyên tác. Đây là điều khó, rất khó. Một độc giả đã nhận xét: "Ca khúc được xây dựng trên nền hợp âm mi thứ với những quãng lạ mang âm hưởng dân ca. Phải là một nhạc sĩ giỏi mới có thể phổ nhạc nguyên bài thơ thất ngôn hay và thành công như vậy".

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc từng kể lại những suy nghĩ, xúc cảm của mình trong một lần đối mặt với con sông Hồng mùa lũ: "Ngồi trên mặt đê, nhìn làn nước mênh mông, đỏ quạch phù sa đang sôi réo ngay dưới chân trước mặt, tôi thấy nôn nao trong lòng... Những người màn trời chiếu đất trên mặt đê này sẽ dạt về đâu? Tôi vừa tự hỏi vừa nhìn những xoáy nước đang xoay vần với những đám bọt đỏ ngầu và cánh bèo tây dập dềnh giai điệu con thuyền xa bến chợt vang lên trong tôi…". Đoạn hồi ký khiến ta không khỏi nhớ tới những câu thơ của Nguyễn Bính trong "Cô lái đò": "Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng trong/ Cô lái đò kia đi lấy chồng/ Vắng bóng cô em từ dạo ấy/ Để buồn cho những khách sang sông".

Tính từ ngày ra đời đến nay, ca khúc "Cô lái đò" đã được nhiều ca sĩ chọn làm "bài tủ" của mình. Với ca từ man mác buồn, lại mang âm hưởng dân gian Bắc Bộ, bài hát cứ lặng lẽ thấm quyện lòng người, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và với mỗi lứa nghệ sĩ, họ dường như lại tìm thấy trong ca khúc một cách thể hiện. Tuy nhiên, theo những người sành điệu thì một trong những ca sĩ đầu tiên chắp cánh cho ca khúc này bay cao chính là Thương Huyền, và cho đến hôm nay, cũng chưa có ai thành công hơn Thương Huyền trong việc thể hiện "Cô lái đò". Sinh thời, nghệ sĩ chèo Tào Mạt rất mê "Cô lái đò", hễ có dịp là ông lại cất giọng hát ca khúc này.

Sau "Cô lái đò", Nguyễn Đình Phúc tiếp tục cho ra đời một số ca khúc, trong đó có những bài ít nhiều được người đời biết tiếng: "Lời du tử", "Chiến sĩ sông Lô", "Nhớ anh Giải phóng quân", đặc biệt là ca khúc "Tiếng đàn bầu" (phổ thơ Lữ Giang) - một "đại diện" âm nhạc tiểu biểu của ông sau Cách mạng.

Cũng tương tự "Cô lái đò", bài hát này cũng có những đoạn thấm thía, xót xa khi nhắc tới những phận người sống héo hắt, buồn thương trong chế độ cũ.

Những năm cuối đời, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc như dồn hết tâm lực của mình vào việc vẽ. Ông vẽ nhiều, đa phần là tranh sơn dầu và giấy dó. Ông thích thú vẽ chân dung các văn nghệ sĩ, những người ông từng gặp và mến trọng về tài năng và nhân cách. Nhiều bức ông vẽ bằng trí nhớ. Bức chân dung danh họa Nguyễn Phan Chánh là bức vẽ cuối cùng trong cuộc đời ông, được ông hoàn thành 2 ngày trước khi mất.

Nhà văn Chu Văn - trong một bài viết về Nguyễn Bính đã kể lại cuộc đối thoại giữa ông với cô Thoa - cô lái đò trên dòng sông Châu. Sau khi nghe Chu Văn thông báo: "Cô Thoa, bác Bính làm thơ, vẫn hàng ngày đi chợ nhờ đò cô đưa sang ngang, bác ấy mất rồi cô ạ", cô Thoa đã gục mặt lên mái chèo, tiếng lạc đi: "Cháu biết! Giá chết thay được, thì cháu tự nguyện chết thay để bác ấy sống, bác ấy làm thơ". Không rõ trong đời mình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã gặp một cô lái đò nào có thể chia sẻ với ông đến vậy, song thực tế, lòng ngưỡng mộ của khán thính giả nhiều thế hệ đối với ông thông qua ca khúc nói trên dường như chưa bao giờ phai nhạt. Và đó chính là phần thưởng vô giá đối với một người nghệ sĩ ưa chuộng cuộc sống tự do như ông…

Trần Bá Thịnh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.