Nhạc sĩ Cù Lệ Duyên: Giọt mật âm của Hương Thiên

Nếu những bài thơ viết về danh thắng chùa Hương được gọi là Hương thi, những họa phẩm về quần thể thắng cảnh này là Mặc Hương, những bức ảnh về Tùng lâm trác tích là Ảnh Hương thì các nhạc phẩm về thắng tích Hương sơn này phải được gọi là Nhạc Hương. Và Hương nhạc của Cù Lệ Duyên chính là giọt mật âm của Hương thiên vậy.

Ẩn thức nhạc Phật

Con đường và cung nhạc mà chị đã trải qua bắt đầu hành trình từ lúc chị mới 7 tuổi khi còn là con bé bị bố bắt ngồi vào bàn piano mỗi tối. Cái mầm nhạc được gieo vào tâm hồn chị qua những buổi tập đàn như thế. Những nốt nhạc đầu đời do tự mình khởi lên và từ đó vang âm vào tiềm thức, cho dù ý thức của đứa trẻ lúc đó là muốn đi chơi cùng lũ bạn ngoài kia. Rồi những điệu nhạc mỗi ngày dần thấm vào trong những nghĩ suy, xúc cảm và lớn dần cùng chị theo những phát triển thể chất.

10 tuổi (năm 1975), chị học sơ cấp và trung cấp piano tại Nhạc viện Hà Nội - nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Rồi tốt nghiệp đại học, cao học và nghiên cứu sinh - lý luận âm nhạc tại Nhạc viện Tchaikovsky. 33 tuổi, chị bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học cũng tại Nhạc viện Tchaikovsky. 45 tuổi, chị được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư.

Tiếp xúc với âm nhạc từ sớm nhưng đến với nhạc Phật thì có lẽ là muộn. Có nhân rồi nhưng chưa hội đủ duyên thì cũng chưa thể tạo quả được. Chuyên môn của chị là giảng dạy về Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy, bao nhiêu năm nhưng thực sự bước chân vào con đường sáng tác thì chỉ từ khi có hạnh ngộ được gặp Thượng tọa Thích Minh Hiền, động chủ Hương tích đời thứ 12.

Và khi đã sáng tác rồi thì là cả một series nhạc và chỉ chuyên nhạc Phật mà thôi. Bởi cái ẩn thức Phật tính trong chị khi được tiếp thêm sức mạnh bởi năng lượng truyền thừa trong những lời thuyết pháp của thầy Minh Hiền đã bật mầm thức dậy bằng hình thức bản năng âm nhạc. Khi đi lễ hội chùa Hương như bao du khách thập phương, được gặp Thượng tọa, được thầy tặng cho đĩa nhạc Hương sơn ca chính là cái duyên của chị với nhạc Phật. Để rồi sau đó chị "chiếm sóng" toàn bộ Hương sơn ca vol 2, vol 3, vol 4 với hơn 30 ca khúc.

Các nhạc phẩm do Cù Lệ Duyên sáng tác nói về vẻ đẹp mật mỹ của chùa Hương, về công đức chư tăng bao đời dựng xây, bồi đắp lên Tùng lâm Hương tích này. Vậy là cái mầm nhạc ngày xưa giờ đã thành hình, bật chồi và kết trái trong "Phật uyển nhạc Việt" (chữ của thầy Thích Minh Hiền khi đề từ Lời phi lộ cho đĩa nhạc Hương sơn ca vol 2).

Con đường âm nhạc của chị từ những dấu chân đầu tiên như thế, rồi cứ đi mà thành cung đường vậy. Tự chị đã khai phá, mở ra con đường nhạc Phật trong tâm mình như thế. Để rồi đến khi có thêm được "Tiếng chuông trên đảo Trường Sa" (phổ thơ Thích Minh Hiền) và "Việt Nam Phật tâm ca" đã làm thành bộ Hương khúc với 52 nhạc phẩm cho đến nay.

Giai điệu và ca từ của các bài hát nhạc Phật của chị có thể tìm thấy trên Facebook, Zalo, Youtube. Nhưng cái chất nhạc, nét nhạc khái quát của toàn bộ các ca khúc đó là gì, gọi tên nó một cách rành mạch, cô đọng và súc tích trong mấy từ mà có thể bao trùm được hết thảy thì chưa thấy trên không gian mạng. Với những cây đa cây đề trong làng nhạc, có thể dễ dàng gọi thành tên cá tính âm nhạc của mỗi người. Giả như, chất nhạc của Phó Đức Phương là phiêu ly, Trần Tiến thì lãng tử, An Thuyên là hạt phù sa mang hình nốt nhạc… Với Cù Lệ Duyên, chất nhạc của chị là gì, tôi đang đi tìm tên gọi cho những bản nhạc Phật mà chị đã mặc khải trong tâm tưởng mình.

Cánh sen ngàn bên dòng Yến Vỹ

Khi thưởng lãm một họa phẩm, tôi đã từng được nghe một họa sĩ nào đó nói đại ý rằng "Nét đẹp nhìn thấy bên ngoài, nét cuốn hút nhìn thấy bên trong và nét si mê chỉ nhìn thấy qua đồng điệu". Với âm nhạc, có thể phiên sang thành, cái nghe thấy bên ngoài (bản nhạc vật lý với các ký xướng âm và những con chữ lời ca) chỉ là xác nhạc, cái nghe thấy bên trong là sự rung động chạm vào cảm xúc và cái đắm mê chỉ nghe thấy qua sự đồng âm tương bích.

Nhạc của Cù Lệ Duyên không phải là dấu mốc trên chặng đường vận động của âm nhạc Việt, bởi không thấy ở đó sự tìm tòi cách tân hay những thể nghiệm mới mẻ trong sự tương tác của đương đại và dòng chảy âm nhạc. Nhạc của Cù Lệ Duyên đẹp và trong, nhưng chưa thể là thiền khúc, bởi giai điệu chưa đượm hương vị thiền và ca từ chị sáng tác (không phải phổ thơ) chưa đạt tới phong vị thiền. Nên nhạc của Cù Lệ Duyên càng không thể chạm tới mật khúc, khúc nhạc huyễn ảo của thần thức trùng hằng giữa ngàn luân, nhạc mà không nhạc, không nhạc mà vang ngân lộng lẫy nhạc tính, vọng và phiêu khắp cõi thần linh. Vậy nét nhạc của Cù Lệ Duyên là gì, chất nhạc của Cù Lệ Duyên là gì?

Có lẽ mỗi bản nhạc của Cù Lệ Duyên là một hạt tràng, bật hiện những đường vân của tâm cảm khi chúng được ngân lên. Xâu chuỗi những hạt tràng đó sẽ kết thành một chuỗi vòng tràng hạt, đẹp vân vi. Hoặc tập hợp các ca khúc của Cù Lệ Duyên lại, sẽ được giọt mật âm của Hương Thiên, ngưng đọng trong cánh sen giữa trời, non, nước Hương Sơn.

Từ "Hương mộc miên", cho đến "Cung đàn Hương Sơn", rồi khi là "Mẹ Quán âm", lúc là "Hương Sơn ca", là "Hương Sơn ngày về", rồi "Chiều Hương Sơn", hoặc là "Tháng ba Hương Sơn", "Ai về Hương tích", và "Hào khí Hương Thiên"… những nét phiêu sắc của Nam thiên đệ nhất động cô đọng vào từng nốt nhạc ngọt ngào của Lệ Duyên thành giọt mật âm. Giọt mật âm đó có sánh đặc với thời luân không? Có đượm thấm vào đời sống nhiều áp lực và vội vã không? Hay sẽ tan biến vào hư thinh sau những biến thiên của trùng hằng? Cho dù các nhạc phẩm có bay theo cánh Oanh ngàn thì mỗi nốt nhạc cũng đã kịp hóa thân thành một lời niệm Tịnh độ rồi.

Quy y Tam bảo khi đi lễ chùa, được Thầy đặt cho pháp danh là Diệu Thiện. Nhạc Phật trong Cù Lệ Duyên là cái bản thức bấy lâu chưa được khơi mạch. Khi ngọn gió của Phật uyển âm nhạc chạm tới thì năng lượng của cái bản thức ấy mới được tuôn trào. Một loạt các Hương khúc được ra đời từ đó, có những thời điểm, chỉ trong một tuần lễ chị đã sáng tác được liền 10 bài hát.

Đêm Khánh đản. Lung linh hoa đăng trên dòng Yến vĩ. Lung linh nến trên sân Thiên Trù, lấp lóa đèn flast smartphone trên tay những Phật tử. Sân khấu là khoảng trước nhà gác chuông Thiên trù. Tôi nhớ lễ ra mắt DVD Hương Sơn ca vol3 đã diễn ra trong một không gian mặc huyền như thế. Đó cũng chính là điểm nhấn của lễ hội chùa Hương năm ấy, mùa xuân Quý Tỵ 2013. Sau bao ngày vất vả, ekíp dựng đĩa nhạc, bằng tấm lòng hướng Phật đã hoàn thành DVD này để dâng lên chư Bồ Tát nhân ngày Vía của Ngài. Và giọt mật âm đã bay lên giữa trời Hương thiên như thế…

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.