Nhà văn và nhân vật tội phạm… của một Tết xa

Khoảng ba mươi năm  về trước, vào một đêm khuya lắm, nhà văn Triệu Bôn đi thực tế từ trại giam Phú Sơn về. Dáng người vốn gầy, đen đúa lại cắt tóc, kiểu gọt trọc lốc, trông anh vừa xa lạ, vừa quen, vừa hơi sợ nữa...

Anh mở cửa thấy con trai đã ngủ, liền xin vợ cốc nước, uống ừng ực, rồi ngội bệt xuống sàn nhà xi măng, thõng người như ở cõi chết trở về, rồi anh chợt thốt lên với tôi: “Nhà mình tuy tồi tàn thật, nhưng có em và con ấm  áp hẳn em ạ. Anh nhập vai cùng với anh em trại tù, đúng là một ngày tù ngàn thu ở ngoài. Ngày dài thê thảm, mùa đông lại càng thê thảm. Tết đến đúng là không muốn nhớ đến tết. Vợ không hình dung được ở tù những năm ấy, đói kém đến thế nào đâu. Hồi đó  đến ngoài đời còn chạy ăn từng bữa gạo trắng, nói gì đến cơm tù. Ăn hạt bo bo nhiều người ăn không tiêu, ốm o suốt, tội lắm, cũng là kiếp người”, rồi Triệu Bôn khóc như đứa trẻ. Lát sau, đứng dậy  anh đi tìm vòi nước công cộng mà ông lão ăn mày chỉ cho đêm hôm trước, ở cái ngõ trong vách chợ Bắc Qua để tắm và giặt giũ.

Nhà văn Triệu Bôn thời trẻ.
Nhà văn Triệu Bôn thời trẻ.

Hồi đó Hội Nhà văn Hà Nội như sống gần sa mạc. Hai ba giờ  sáng mới có thể bơm nước có được cái thùng phuy 200 lít, chỉ đủ tằn tiện dùng  nước một ngày. Anh còn giao hẹn với vợ:

“Chắc từ ngày mai em lo liệu hết để giúp anh,  anh viết tiểu thuyết này khoảng 20 ngày cho xong, nhé”. Hai mươi ngày, anh chỉ ăn qua quýt, rồi đóng cửa phòng văn viết từ sáng đến tối khuya, có lúc mắt chỉ nhìn trân trân vào một điểm. Chưa đầy  15 ngày  anh viết  xong tiểu thuyết: “Một  phút và nửa đời người” được in ở Tạp chí Nhà văn hai kỳ, sau đó được in ở Nhà xuất bản Công an nhân dân.

Nhân vật Khoái trong tiểu thuyết của nhà văn Triệu Bôn thời gian đó vẫn ở tù, nhưng bạn đọc truyền tay nhau lan tỏa tới  trại  giam và Khoái cũng được nghe kể về mình như một huyền thoại. Câu chuyện về nhân vật trong tác phẩm lấy nguyên mẫu từ Khoái – một tù nhân đang thụ án ở trại giam Phú Sơn còn được thêm bớt gia giảm theo cách của người kể chuyện. Nhà văn Triệu Bôn, khi viết xong tác phẩm, đưa đi xuất bản, cũng chưa hay biết sức lan tỏa của tiểu thuyết viết về một nhân vật tìm vàng ở Thái Nguyên lớn đến thế.

Mấy năm sau đó, nhà văn Triệu Bôn bị tai biến mạch máu não, bị liệt nửa người bên trái. Một buổi chiều thật muộn, chợt có  một người  hỏi thăm phòng, bệnh  nhân là nhà văn Triệu Bôn. Tôi thấy nhà văn Triệu Bôn cố nhỏm dậy rồi cố giơ tay ra bắt: “Vào đi em, làm sao mà Khoái biết để vào đến đây với anh?”.

 Lúc này tôi mới biết, thì ra đây là nhân vật Khoái trong tiểu thuyết  “Một phút và nửa đời người”.  Qua câu chuyện của nhà văn và nhân vật này tôi mới chỉ biết trong sách, giờ đây được mục sở thị ngoài đời. Khoái  ra tù và hay tin qua một bài báo biết nhà văn Triệu Bôn ốm; Khoái đi xe đò từ sớm ở Thái Nguyên, lỡ xe, chiều muộn lại chờ tới 5 giờ chiều bệnh viện mới cho người nhà vào thăm nuôi.

Nhà văn Triệu Bôn hỏi thăm vợ con của Khoái hiện tại, rồi hỏi tới con đường kiếm kế sinh nhai tiếp theo. Khoái thủ thỉ với nhà văn rằng: “Em đã từng có rất nhiều, rất nhiều vàng và nhiều tiền, nhưng tính hào hiệp em cho đi rất nhiều vàng và vàng cũng không đem lại cho em hạnh phúc anh ạ.

Vào tù, ra tội lại vào tù, vào tù lần nữa thì do bạn mưu hại, ngay cả người bạn tốt như  người chiến sỹ Công an trong tiểu thuyết, khi anh ta chết rồi em mới hiểu ra trên đời vẫn còn người tử tế với em. Ngay cả một viên quản giáo tốt ở trong tù; hay có ông quản giáo cả đời làm mỗi việc trông coi tù nhân, tính tình khắc nghiệt, hạch sách  và nham hiểm; rồi lòng tốt của một vị quản giáo khác, tất cả cái  tốt và cái xấu dù chỉ cách nhau một barie; nhưng hai chữ tự do nó vẫn là một khoảng cách rất xa nhau. Em đây, Khoái  đây, phải đợi khá lâu, khi ra tù, em mới vỡ ra rằng ở đâu cũng có người tốt, ở đâu cũng có người sống không ra gì anh ạ”.

Nhân vật Khoái hiện tại.
Nhân vật Khoái hiện tại.

Trong câu chuyện của nhân vật Khoái và nhà văn Triệu Bôn, Khoái còn nhắc đến những thước phim “Phần đời không muốn nhớ” của nhà văn, nhà biên kịch Trần Quốc Huấn chuyển thể từ tiểu thuyết của Triệu Bôn. Khi còn  ở tù, Khoái cũng nghe nói phim này hay, thời đó rất hot ở Thái Nguyên, nhân vật Khoái không thể ngờ mình cũng  rất nổi tiếng ở vùng đào vàng hun hút quạnh hưu này. Tuy nhiên ngày đó  anh chỉ dám mơ ước được xem phim một lần cho biết thôi.

Rồi may mắn sao, anh lại được xem phim khi ra tù. Khoái cũng cho hay, có thể nhờ sự lan tỏa của tiểu thuyết này, mà Khoái được tôn trọng và ưu ái hơn những người mặc áo kẻ sọc ngang khác ở trong trại giam. Cũng  có người nhìn anh như một anh hùng, một cuộc đời dám dấn thân, và từng chạm mặt cái chết mỏng như sợi tóc; Lại nghe khi ra tù, vợ Khoái và Khoái mở một quán bún ngan, sau dẹp đi mở một quán nước kiếm dăm ba chục lẻ, nuôi con ăn học. Nhà ở một nơi, gần núi, gần đồi chè bạt ngàn. Buồn bã đã như chực sẵn trong tim, anh đổi nhà vài lần, rốt cục vẫn mê đi đào vàng hơn làm những việc khác.

Thế rồi sau hàng tiếng hàn huyên, Khoái đưa ra một cái chai thủy tinh 0,65lít, chai đựng đầy vàng cám. Khoái nói: “Em kiếm được ít vàng cám, không kịp chuyển thành tiền, kiếm được là em mang đến biếu anh, anh nói để chị đổi lấy thuốc chữa bệnh cho anh”. Nhà văn Triệu Bôn không nhìn chai vàng  mà từ tốn, nhỏ nhẹ: “Chú cất chai vàng này đi, mang  về lo cho con, chú đừng để vàng xen vào giữa anh và chú”.

Tôi nhìn thấy Khoái quay đi, Khoái xúc động nhưng kiềm được dòng nước mắt. Cái hành lang bệnh viện lúc đó ánh sáng trắng như rộng hơn, hun  hút hơn và mênh mông tình người hơn. Tôi cũng nhìn thấy dáng đi như lệch một bên vai của Khoái, Khoái như có vẻ ân hận vì anh tự trách mình sao không kịp đổi vàng ra tiền. Rồi chính sau này, nhà văn Triệu Bôn có dịp đi lấy thuốc đông y, có tạt lên thăm nhà Khoái.

Căn nhà Khoái hồi đó cách thành phố độ vài ba cây số, rất gần đồi và núi, nếu mở hàng quán thì rất khó có khách tới ăn, vợ Khoái nói, Khoái lại đi tìm kiếm nơi để đào vàng xa hơn. Gần cả cuộc đời chỉ có chăm chăm đào vàng, vào tù vì vàng ra tù lại cũng vì vàng. Khoái cũng từng chăm chăm  cho hạnh phúc gia đình, rồi hạnh phúc cũng như con chim đủ cánh trượt khỏi tay; thất vọng và hy vọng, lại tìm kiếm tổ ấm khác, và giờ đây Khoái chỉ còn mơ ước mở một quán ăn hay quán trà chén để nuôi nấng đứa con gái nhỏ học hành, để sau này con gái đỡ khổ.

Cuộc đời nhân vật Khoái như chỉ gắn với đất và vàng. Khoái bảo trong tù nỗi nhớ luôn luôn hiện ra khi người ta sợ hãi, khi chợt nghe một tuyên án tử hình hay án chung thân của kẻ đi tù. Sự hằn thù trong tù cũng có phút chùng xuống trước một cái chết ngỡ như vô cảm.

Vợ chồng nhà văn Triệu Bôn - Hoàng Việt Hằng.
Vợ chồng nhà văn Triệu Bôn - Hoàng Việt Hằng.

Lại nhớ một chiều thật muộn cuối tháng Chạp, chỉ còn mấy hôm nữa là Tết,  nhà biên kịch Trần Quốc Huấn giật chuông ở nhà 19 Hàng Buồm. Có một người chậm chạp, đen đúa ra mở chiếc cổng gỗ lớn, biên kịch Trần Quốc Huấn hỏi thăm:

- Bác là bảo vệ  cơ quan phải không ạ? Cho tôi vào nhà anh Triệu Bôn.

Nhà văn thủng thẳng đáp - Anh đi thẳng vào, cái cầu thang như máy bay kia là nhà của ông ấy.

- Vâng. Cảm ơn bác nhé.

Lúc lên tới nhà, Trần Quốc Huấn hỏi:

 - Chị cho tôi gặp anh Triệu Bôn.

 Và Trần Quốc Huấn ngồi chờ; lát sau nhà văn Triệu Bôn lững thững lên gác.

- Anh là nhà văn Triệu Bôn?

Tôi đáp hộ - Vâng nhà tôi đấy ạ, anh ấy là Triệu Bôn.

Trần Quốc Huấn chạy ra ôm lấy anh Triệu Bôn, cười  rung người: “Anh ơi anh cũng là lính, em cũng là lính của anh đây, lính tráng với nhau, lúc nãy em cứ ngỡ anh là bảo vệ kia đấy. Thật không phải với anh”.

Triệu Bôn cười hiền lành -  “Thì có gì khác gì nhau giữa ông nhà  văn và bảo vệ, đôi khi mình còn nhờ cả tới ông lão ăn mày ở đây đấy cậu ạ”.

Nhà văn Triệu Bôn và Trần Quốc Huấn hiểu nhau rất nhanh vì cái chất người lính có sẵn trong người họ. Trần Quốc Huấn nói say sưa về nhân vật Khoái, về kịch bản “Phẩn đời không muốn nhớ” và nhân vật Khoái là tâm điểm của câu chuyện thân thiết giữa nhà văn và nhà biên kịch. Năm đó, Trần Quốc Huấn còn mang đến khoản nhuận bút một trăm tám mươi đồng để nhà văn Triệu Bôn có tiền tiêu Tết. Nhà văn và tác phẩm, nhà văn và biên kịch đã làm nên những thước phim, mà chính những nhân vật này đã bước ra ngoài đời, đối thoại và suy nghĩ về sự thánh thiện trong mỗi phần đời, để nhân vật thấy cuộc đời đáng sống hơn, hy vọng hơn, và người tin vào người hơn, đó cũng chính là ý nghĩa nhân văn cao đẹp nhất mà nhà văn và tác phẩm văn học của họ mang lại cho cuộc đời.

Hoàng Việt Hăng - Xuân 2016

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.